Mai Châu có lưu giữ văn hóa truyền thống

Mai Châu là một huyện miền núi (tỉnh Hòa Bình) có diện tích 63.700 ha, dân số 43 vạn người với nhiều dân tộc khác nhau chung sống. Đây là mảnh đất có nền văn hóa đặc sắc, truyền thống lịch sử lâu đời , tiềm năng kinh tế phong phú và là vùng du lịch đầy hứa hẹn. Du lịch đến Mai Châu có thể thưởng thức các loại hình như: Du lịch xanh, du lịch văn hóa – lịch sử…
Mỗi dân tộc ở Mai Châu đều có nền văn hóa đầy bản sắc và mang đặc trưng riêng từ văn hóa mặc, nề nếp sinh hoạt, ẩm thực đến phương thức canh tác…
Nền văn hóa truyền thống mang đầy bản sắc dân tộc ấy đang đứng trước nguy cơ bị mai một. Du khách đến đây để thoát khỏi cảnh ồn ào, chật chội nơi đô thị, để tìm đến một không gian yên tĩnh, môi trường trong lành và tìm hiểu bản sắc văn hóa truyền thống. Họ muốn được ở nhà sàn, ăn cơm lam, ngắm cảnh núi rừng sông suối chứ không phải để ngắm nhìn những khối bê tông, quạt trần, tủ lạnh… Trước lúc đến đây, ai cũng sẽ được thấy những cô gái Thái trong bộ y phục truyền thống như đã thấy trên phim ảnh, nhưng khi “mục sở thị” thì họ hết sức thất vọng vì tất cả các cô gái Thái đều ăn mặc trang phục của người kinh. Họa chăng, chỉ còn vài cụ bà trong trang phục váy áo. Nếu du khách muốn xem các cô gái Thái tươi trẻ trong trang phục váy xòe váy đụp thì phải thuê đội múa của làng bản. Điều này khiến du khách có nhiều cảm giác mất thoải mái, tự nhiên khi phải bỏ tiền để mua văn hóa.
m nhạc truyền thống cũng đang dần bị lãng quên lãng, tiếng khèn dường như cũng phải nhường chỗ cho những tiếng xập xình phát ra từ những thiết bị âm thanh hiện đại. Một du khách than phiền “Ở đấy suốt mấy ngày mà chỉ thấy những cô gái tay dệt vải, tai nghe nhạc Đan Trường. Phải chăng đây là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại!…
Ông Vũ Ngọc Cổn – Giám đốc phòng Quản lý Du lịch và Dịch vụ Mai Châu, cho biết: “Phòng cũng đã kết hợp với bên Văn hóa Thông tin huyện đề ra những biện pháp giữ gìn nền văn hóa truyền thống, nhưng để thực hiện thì rất khó, bởi nhân lực lẫn kinh phí đều thiếu, Mai Châu cần sự hỗ trợ của các cấp để có điều kiện thực hiện những dự định đã đề ra”.
Ông Hà Quang Tín, Trưởng bản Lác, nói rằng, năm 1999, một nhà nguyên cứu dân tộc học người Mỹ đã hỏi ông liệu 10 năm nữa truyền thống dân tộc của bản làng có còn không thì ông trả lời “Việt Nam bước sang nền kinh tế thị trường đã nhiều năm nay nhưng chúng vẫn giữ được phần lớn các giá trị cơ bản của nền văn hóa truyền thống. Nếu so sánh với biến đổi của Thái Lan hay các nước Đông Nam Á khác thì ông sẽ thấy được sự cố gắng của chúng tôi”. Ông Tín cho biết thêm: về vấn đề trang phục của các bản thì sắp tới, bản Lác sẽ khuyến khích những cô gái Thái mặc trang phục truyền thống để bán hàng lưu niệm. Vì đây là đối tượng luôn tiếp xúc với du khách. Còn nếu yêu cầu mọi người đều phải mặc thì rất khó bởi người dân nơi đây đa số là nông dân, trang phục gọn gàng của người kinh rất thuận lợi với họ trong sinh hoạt hàng ngày.
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề quan trọng mà ngành văn hóa – Thông tin, Du lịch của Mai Châu cần quan tâm. Bởi đây không những là niềm tự hào dân tộc mà còn là một sản phẩm du lịch đặc sắc thu hút du khách. Không làm được điều này thì sự hấp dẫn của Mai Châu sẽ không còn. Tuy nhiên, đây là một vấn đề không thể giải quyết trong ngày một ngày hai. Nó cần sự phối hợp, giúp đỡ của nhiều cơ quan, đoàn thể liên quan. Nếu giải quyết tốt đều này thì chắc chắn Mai Châu sẽ là vùng đất du lịch trong và ngoài nước bởi phong cảnh đẹp và nền văn hóa truyền thống mang đầy bản sắc của Mai Châu.
Nguyễn Thế Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176) 2001

Đôminica – Quốc đảo của du lịch sinh thái

Quốc đảo Đôminica nằm trên vịnh Caribê thuộc Trung Mỹ, được Crixtốp Côlông phát hiện từ năm 1492 và là một trong những quần đảo có phong cảnh đẹp nhất thế giới.
Đôminica có diện tích 48,6 nghìn km2, rộng khoảng bằng 1/7 diện tích Việt Nam, dân số 5,744 triệu (1982) trong đó có 16% là da trắng, 11% da đen và 73% là lai trắng đen.
Quốc đảo Đôminica có nền kinh tế nông nghiệp yếu kém, sản phẩm chủ yếu gồm: chuối, gạo, cao. Cà phê, thuốc lá, cà chua. Nền công nghiệp tập trung vào khai thác quặng nhôm để xuất khẩu.
Đôminica có khí hậu nhiệt đới ẩm ướt, nhờ đó thảm thực vật xanh tốt quanh năm. Những rừng dừa rạm rạp chiếm diện tích rộng trên đảo, có đảo dừa là cây thống trị. Rừng dừa lan ra tận bờ biển, nơi có bãi cát trắng rộng, ôm lấy các đảo – Hầu hết các bãi cát viền quanh đảo ở Đôminica có thể khai thác thành các bãi tắm vì nước biển chỗ nào cũng trong suốt, có thể nhìn thấu đáy các bờ nông và có cả cá lội cùng các loài giáp xác, nhuyễn thể di chuyển.
Khí hậu nơi đây trong lành, bốn bề là đại dương, nhiệt độ nước biển luôn ở nhiệt độ 25 độ C, rừng cây được bảo vệ nghiêm ngặt, Chính phủ quốc đảo Đôminica kiên trì theo chiến lược phát triển kinh tế mũi nhọn “Du lịch sinh thái và văn hóa”.
Và việc đầu tiên là cũng cố và phát triển các công trình hạ tầng cơ sở, phục vụ cho du lịch, như: xây dựng sân bay, đường giao thông thủy, bộ đi tới các đảo, các khách sạn. Hiện nay ở thủ đô Đômingơ và nhiều tỉnh khác nhau đã có các khách sạn 3 sao, 4 sao. Hầu hết các khách sạn đều xây dựng trong những khu vườn rộng, cây to, bóng mát, có nhiều cửa sổ hướng về gió biển. tiếp theo là thành lập các vườn thú quốc gia, kế hoạch bảo vệ rừng, bảo vệ các bãi san hô và các sinh vật sống trong môi trường đáy biển có san hô.
Cuối cùng là vạch ra các tour du lịch văn hóa, sinh thái, gồm có du lịch thăm các di tích lịch sử văn hóa, du lịch tham quan đàn cá voi lưng gù di cư từ đảo Grôenlan về đây định cư, sinh sôi nảy nở; thăm các đầm phá ven biển nơi có nhiều cá sấu và chim vẹt màu sắc sặc sỡ.
Ở quốc đảo du lịch Đôminica có hai tuyến tham quan được du khách quan tâm, đó là:
Tuyến tham quan thủ đô Đômingơ – Đômingơ là một thành phố đầy ắp di tích lịch sử, bảo tàng, nhà lưu niệm. Nhà bảo tàng nổi tiếng là “Ancada đơ Côlông” còn lưu giữ bộ sưu tập đồ gỗ của Tây Ban Nha nhập vào từ thế kỷ XV và XVI. Ngoài ra còn có nhiều cổ vật, tượng đài, bia đá phản ánh cuộc sống của các nhà thám hiểm, người dân Tây Ban Nha voà những năm của thế kỷ đầu đặt chân tới thành phố này.
Thủ đô Đômingơ còn là thành phố cổ. Các dãy phố, các nhà thờ, các công sở đều xây dựng theo kiến trúc Gô – tích – một kiểu kiến trúc cổ châu u phổ biến vào các thế kỷ thứ XII đến thế kỷ XIV.
Tuyến leo lên đỉnh núi Đuartơ cao 3.175m. Du khách có thể ngồi trên lưng ngựa tận mắt nhìn thấy cảnh quan thiên nhiên thay đổi theo chiều cao của ngọn núi. Từ 0 đến 800m là cảnh quan rừng nhiệt đới. Từ 800m đến 2.000m là rừng cây hỗn hợp vừa nhiệt đới vừa ôn đới. Từ 2.000m đến đỉnh núi là rừng cây ôn đới gồm các cây lá kim như thông, tùng, bách. Ở độ cao này, độ ẩm không khí lớn, mây mù quanh năm, thời tiết rất rét ngay cả vào mùa hạ. càng lên cao cây cối càng bé dần, thấp dần, chỉ còn cây bụi và cỏ mọc không kín mặt đất.
Quần đảo Đôminica đựợc các nhà du lịch Châu u coi là viên ngọc của vùng biển Caribê. Du khách tới đây ngày một đông, riêng khách Pháp trong năm 2001 có khả năng lên tới 200 nghìn người. Nhờ du lịch phát triển, đời sống người dân ở Đôminica được nâng lên rõ rệt.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11 (176) – 2001

Ngổn ngang Trung tâm dịch vụ việc làm- Phần 3

Người phụ trách một TT việc làm ở phố Trần Đăng Ninh (Hà Nội) cho hay: lao động phổ thông: 300.000đ – 500.000đ. Tốt nghiệp đại học: 3 – 4 triệu đồng. Ai muốn có chỗ làm tại khu công nghiệp Sài Đồng cứ “chịu khó” bỏ ra đây 500 – 700 USD!
Các chuyên gia nói gì?
Ông Trần Văn Thạc, Chuyên viên chương trình xúc tiến việc làm Quốc gia (Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội ) cho biết, hiện nay Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội đang kiến nghị Chính phủ sửa Nghị định 72/CP cho tình hình thực tế. Trước không thu, vậy nay có thu thì phải quy định rõ ràng, tránh tình trạng lộn xộn như hiện nay. Nhằm phần nào đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội cũng đang xây dựng dự án “Thông tin thị trường lao động” trình Chính phủ phê diệt. tuy nhiên, chuyện hòa mạng các thong tin về thị trường lao động như một số ý kiến là rất khó “vì những thông tin này là miếng cơm manh áo của các trung tâm dịch vụ việc làm, đời nào họ cho không” –ông Thạc giải thích.
Bên cạnh đó, để hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm đi vào trật tự còn cần đến sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan hữu quan. Ông Dương Văn Tịnh kiến nghị: Ngành kế hoạch – Đầu tư cần thiết phải có sự thỏa thuận với ngành Lao động – Thương binh – Xã hội mỗi khi cấp phép kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động môi giới việc làm.
Tuy nhiên, trên đây cũng chỉ là những biện pháp mang tính chất lượng, hiệu quả các trung tâm dịch vụ việc làm , nhiều chuyên gia cho rằng cần có một cuộc “đại cách mạng”. Rất nhiều nước trên thế giới không thu phí đối với người lao động. Mọi chi phí đều rút từ ngân sách Nhà nước hoặc Quỹ hỗ trợ xúc tiến việc làm. (trừ một số vị trí công việc đặc biệt). Ngay cả việc đào tạo cũng trả về cho các trường dạy nghề. Những yếu tố này khiến cho hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm mang lại hiệu quả cao tránh được các tiêu cực. Nên chăng, ta cũng học theo cách làm của họ.
Đồng tiền Việt Nam dưới các triều Đại
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, tiền được đúc bằng một số kim loại thông dụng nhưng phổ biến và chủ yếu nhất là bằng đồng.
Tiền đồng Việt Nam hầu hết có đúc chữ nổi, ghi niên hiệu các đời vua trên mặt đồng tiền nên rất dễ dàng có thể biết được niên đại.
Tính từ thời Đinh Tiên Hoàng (970 – 979) là ông vua đầu tiên cho đời Bảo Đại (1926- 1945) là ông vua cuối cùng cho đúc tiền, thì tiền đồng Việt Nam đã được đúc tất cả 225 loại với số lượng hàng triệu đồng tiền đã được được lưu hành.
Nhiều ông vua trong suốt thời gian trị vì chỉ cho đúc một loại tiền đồng (số này chiếm đến 65% các đời ông vua cho đúc tiền). Một số ông vua khác thì cho đúc 2 -3 loại tiền. Nhưng cũng có ông vua đã đúc rất nhiều tiền, ghi nhiều niên hiệu khác nhau. Tiêu biểu Nguyễn Huệ (1788 – 1792) – 6 lần; Lê Chiêu Thống (1787 – 1788) – 7 lần; Nguyễn Dực Tông (1848 – 1883) – 21 làn; Nguyễn Hiến Tổ (1841 – 1847) – 41 lần. Nhiều nhất là Lê Hiển Tông (1740 – 1786) và Nguyễn Thánh Tổ (1820 – 1840) – cùng
Xuân Thủy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Ngổn ngang Trung tâm dịch vụ việc làm – Phần 2

Các ông Vũ Trung Chính, Dương Văn Tịnh đều cho rằng chương trình dạy nghề của ta chưa được chuẩn hóa, thống nhất, phần nhiều mang tính chụp giật. Ông Chính kết luận: “Như vậy rất khó quản lý được chất lượng đào tạo”.
Đến những bất cập trong quản lý.
Sau khi giấy phép kinh doanh môi giới việc làm bị bãi bỏ, hàng loạt các doanh nghiệp hoạt động môi giới việc làm ra đời theo luật Doanh nghiệp, vì lao động cũng coi là một mặt hàng. Tuy nhiên ở đây nảy sinh vấn đề phân cấp quản lý, bởi trước khi bãi bỏ 84 loại giấy phép thì các trung tâm dịch vụ việc làm do Sở Lao động – Thương binh – Xã hội cấp phép, còn hiện nay, phần việc này thuộc Sở Kế hoạch – Đầu tư mặc dù Sở Lao động – Thương binh – Xã hội thực hiện quản lý Nhà nước. Và thế là, từ 10 trung tâm dịch vụ việc làm, cho đến nay, toàn thành phố Hà Nội đã có khoảng 150 doanh nghiệp, Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoạt động dịch vụ việc làm với đủ tên gọi, cơ quan chủ quản khác nhau. Sở Kế hoạch – Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh còn cho phép một số đơn vị sản xuất, kinh doanh được mở thêm hoạt động dịch vụ việc làm (theo lời một quan chức Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội thì ngay cả Sở Kế hoạch – Đầu tư cũng khó có thể kiểm soát được hoạt động của các đơn vị này, chưa nói đến Sở Lao động – Thương binh – Xã hội ). Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 8 trung tâm dịch vụ việc làm và vài trăm Trung tâm với các tên gọi khác. Trong 8 Trung tâm nói trên, 2 do Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc quyết định thành lập, ngoài ra có Trung tâm của Trung ương Đoàn, Bộ Quốc phòng… Vẫn theo lời quan chức trên, ngay cả chuyện tên gọi cũng còn khúc mắc, vì trên giấy tờ hiện hành, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội chỉ thực hiện quản lý Nhà nước với các trung tâm dịch vụ việc làm. Trong thực tế, các trung tâm rất nhiều tên gọi khác nhau; xúc tiến, môi giới, tư vấn việc làm…
Sự nở rộ các Trung tâm việc làm đã dẫn tới nhiều lộn xộn. Có Trung tâm tồn tại mà trang thiết bị hầu như không có gì. Các cơ sở này thuần túy kinh doanh bằng… nước bọt. Người ta có cảm giác thành lập một trung tâm dịch vụ việc làm quá dễ: chỉ cần có văn phòng, bàn ghế, điện thoại (tất nhiên khi đã có giấy phép kinh doanh của Sở Kế hoạch – Đầu tư, và điều này xem ra không khó lắm). Thế là có thể bắt đầu chuyện “làm ăn” được rồi.
Ông Vũ Trung Chính nói: Tôi dám chắc 99,9% các Trung tâm kiểu đó có sai phạm. Theo nghị định 72/CP và Thông tư 08/TT-BTC của Chính phủ và Bộ Tài chính: các trung tâm dịch vụ việc làm không thu phí môi giới với người lao động. Chỉ được phép thu 5 -8% tháng lương đầu của người lao động khi chủ sử dụng lao động là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh. Số tiền này do bên sử dụng lao động trả. Tuy nhiên, các chủ lao động hầu như không bao giờ chi trả khoảng 5 – 8% kia vì theo họ: “Nhận (lao động) cho là may lắm rồi, đòi hỏi gì nữa!”. Ông Chính còn cho biết thêm: không thu phí môi giới với người lao động, Trung tâm của ông phải dùng phí đào tạo bù sang phần môi giới.
Tuy nhiên, điều này chỉ có ở các trung tâm dịch vụ việc làm hoạt động với phần kinh phí Nhà nước. Các Công ty Trách nhiệm hữu hạn đều hoạch toán, và để tồn tại, họ buộc họ phải “đi đêm”. Ví dụ: Móc nối với các nhân sự người Việt trong các liên doanh, tận dụng tối đa các mối “quan hệ” để dành lấy chỉ tiêu lao động. Và dĩ nhiên, khi đến với các Trung tâm này, người lao động phải chi trả những khoản tiền rất lớn (đặt cọc).
Xuân Thủy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Ngổn ngang Trung tâm dịch vụ việc làm – Phần 1

Theo Tổng cục Dạy nghề, hiện nay cả nước đã có 150 trung tâm dịch vụ việc làm (TTDVVL) nhưng những gì mà các Trung tâm này đã làm được khá nhỏ so với yêu cầu của thực tế. Từ năm 1992 đến nay, các Trung tâm mới chỉ tư vấn nghề và tư vấn việc làm cho khoảng 700 ngàn người, giới thiệu và cung ứng lao động cho gần 900 ngàn người. tuy nhiên, từ khi chính phủ bãi bỏ 84 loại giấy phép trong đó có giấy kinh doanh dịch vụ môi giới việc làm, rất nhiều Trung tâm với đủ loại tên gị: Dịch vụ việc làm, môi giới, tư vấn, xúc tiến việc làm… đã mọc lên… như nấm sau mưa. Tình trạng này đã và đang tạo ra những hiện tượng không lành mạnh trong hoạt động dịch vụ việc làm.
Với một mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm vừa kém hiệu quả, vừa lộn xộn, thiếu lành mạnh như vậy nay, yêu cầu tái chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả các trung tâm dịch vụ việc làm đang được đặt ra hết sức bách thiết.
Từ đào tạo chưa gắn với thị trường.
Theo ông Vũ Trung Chính – Giám đốc trung tâm dịch vụ việc làm Hà Nội (Sở Lao động – Thương binh – Xã hội Hà Nội), công tác tạo các trung tâm dịch vụ việc làm hiện nay và nhiều bất cập. Trang thiết bị nghèo nàn, hài hết điều đã sử dụng từ 20 đến 30 năm, thậm chí có những thiết bị từ năm 60 vẫn sử dụng vào giảng dạy. Không ít Trung tâm còn đang dạy may máy đạp chân, trong khi những cơ sở sử dụng lao động hiện nay đều đã sản xuất theo dây chuyền, chuyên môn hóa cao.
Trang thiết bị như vậy, còn đội ngũ giáo viên thì sao? Ông Chính nói: Như hiện nay, với cơ chế lấy thu bù chi, hầu hết các Trung tâm đều phải sử dụng giáo viên kiêm chức và công tác viên. Chính vì thế, Trung tâm của ông Chính có các ngành học: may, tin học, cơ khí, bồi dưỡng doanh nghiệp thì chỉ chủ động được giáo viên tin học và may.
Tuy nhiên ông Dương Văn Tịnh, giám đốc trung tâm dịch vụ việc làm Thanh Niên Hà Nội lại cho rằng, cần phải tăng cường sử dụng công tác viên vì theo ông, loại hình đào tạo của các trung tâm dịch vụ việc làm mang tính ngắn hạn, lại biến động theo thị trường lao động. Cái thiếu nhất là một số mạng lưới thông tin về thị trường lao động ở cấp vĩ mô. Ông nói: Hàng năm, chúng ta chỉ mới có thông tin về một số người tốt nghiệp đại học và một số cử nhân mà xã hội cần đến. Mảng thông tin về thị trường lao động thiếu vừa yếu. Vì thế, dẫn đến tình trạng đào tạo ra những nghề xã hội không có nhu cầu hoặc ít nhu cầu. Như thời điểm hiện tại, ngành may đang thiếu rất nhiều công nhân, trong khi vài năm trước, điện tử là nghề “mốt”, nhưng nay lại “ế sưng ế sỉa” vì nhu cầu đã bão hòa. Hơn nữa, các công ty điện tử bây giờ “thích” tự đào tạo để dễ dàng “khớp” với dây chuyền sản xuất của họ. Cùng với điện tử, các nghề lắm ráp, sửa chữa cũng chịu chung số phận.
Ngoài ra, một số trung tâm dịch vụ việc làm còn “đá lấn sân”, đào tạo cả lao động phục vụ xuất khẩu, mà chức năng này thuộc về các trường đào tạo nghề. “Như thế không thể có chất lượng cao” – Ông Chính khẳng định – vì các cơ sở trên chỉ có chức năng đào tạo ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu tức thời. Lao động xuất khẩu không có tay nghề vững vàng dễ gây thất vọng cho chủ sử dụng lao động nước ngoài. Khiến nguy cơ mất thị trường càng lớn”.
Xuân Thủy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Khu du lịch của Thiên niên kỷ mới

Suối Hoa Lan – Khu du lịch của Thiên niên kỷ mới
Suối Hoa Lan (còn gọi là suối Tử Sĩ) nằm trong dãy núi Hòn Hèo, thuộc xã Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang 17 km về phía Bắc. Suối dài 6km, được hình thành từ rất nhiều suối nhỏ của những ngọn núi trong dãy Hòn Hèo. Dọc suối, đủ loại cây rừng mọc quấn quýt bên nhau, thành tầng thành lớp. Đặc biệt, suối có rất nhiều hoa phong lan.
Sau khi chảy qua những ghềnh thác cheo leo, Hoa Lan đổ nước trực tiếp vào vịnh Nha Phu, một vịnh biển xinh đẹp trù phú của Nha Trang. Nối vịnh biển và dãy Hòn Hèo là một khoảng đất bằng, diện tích quãng 20 ha, nghĩa là chỉ trong một khoảng không gian không rộng lắm, Hoa Lan đã trải mình qua cả ba hình thế: núi cao, đồng bằng và cả ven biển.
Tận dụng được những ưu thế thiên phú này của suối, cuối năm 1998 Công ty Khách sạn Hoàng Gia, thuộc xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá Khánh Hòa (Khataco) đã tiến hành đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái suối Hoa Lan. Trên mặt bằng dưới chân núi, Công ty san ủi làm, đường đi, xây nhà cửa , trong cây xanh cho bóng mát, xây hình nuôi cá sấu. Các nhà sàn nhà nấm được thiết kế phù hợp với khung cảnh của thiên nhiên. Công ty còn chuẩn bị nhiều lều vó, giường tắm nắng, phao phơi, ghế bố phục vụ những du khách có nhu cầu tắm biển. Phần chính suối Hoa Lan, phía tả ngạn, công ty đường bộ dọc sườn núi song song với suối, xây bậc cấp ở những đoạn đường dốc để khu du lịch lên xuống dễ dàng. Từ con đường bộ này là những con đường nhánh đi xuống thác, lần lượt từ thác số 1 ở dưới thấp, đến thác số 4 ở trên cao đẻ giúp khách chim ngưỡng vẻ đẹp của đá, nước, của cây rừng.
Với 30.000đ/tour cho một người, tour du lịch đến với Hoa Lan bắt đầu từ bến Đá Chồng nằm bên quốc lộ I ở địa phận xã Vĩnh Lương, TP. Nha Trang, du khách được đưa đi bằng tàu thủy qua vịnh Nha Phu. Sau 30 phút, tàu cập bến đến Hòn Hèo. Trên tảng đá dưới chân suối còn nguyên dòng chữ Chàm cổ được khắc sâu rất đẹp, ghi sự kiện một ông vua Chàm ngày trước từng hành hương lên Hoa Lan. Lần theo bước chân người xưa, chúng tôi gặp những ghềnh đá kỳ vĩ. Tùy độ bền của đôi chân, khách có thể dừng ở thác số 1, số 2 hoặc lên cao hơn nữa. Mỗi thác một dáng hình, một vẻ đẹp. Khi đã mỏi chân, bất cứ ai cũng có thể ngả lưng trên những thạch bàn, ngắm nhìn trời xanh qua kẽ lá, hoặc tắm mình trong làn nước tinh khiết, mát lạnh của suối.
Nhờ những ưu thế về địa hình, khoảng cách… từ ngày mở cửa đến nay, Hoa Lan thu hút đủ thành phần du khách. Đông nhất là các bạn trẻ và khách du lịch nước ngoài. Núi Hòn Hèo cao 700m, nhưng độ cao của ngọn thác số 4 (thác cao nhất trong tour hiện nay) là 350m, rất vừa cho một tour dã ngoại. Thời gian đi từ bến Đá Chồng cho đến khi trở lại, cuộc vui chơi của khách kéo dài 4 đến 5 giờ đồng hồ. Cũng có nhiều du khách thích ở qua đêm bên Hoa Lan để được sống trong cảnh hoang sơ của rừng núi. Đêm giao thừa năm 2000, hơn 500 bạn trẻ ở Khánh Hòa và TP. Hồ Chí Minh đã cắm trại bên suối. Đêm 16/3/2000, một đoàn 450 du khách của hãng Sony để nghỉ ngơi trong những ngôi nhà sàn dưới chân mũi. Khi kể với chúng tôi những điều này, chị Nguyễn Thị Hiền, Giám đốc Công ty Khách sạn Hoàng Gia đang ôm ấp một dự án phát triển môn leo núi ở Hoa Lan một công ty đã đăng ký với Didier, một doanh nhân người Pháp thông qua sự môi giới của công ty Lửa Việt ở TP. Hồ Chí Minh.
Cùng với sự phát triển của môn leo núi, nhân kỷ niệm 56 năm thành lập QDND Việt Nam 22/12/2000 công ty đã khai trương tuyến du lịch thăm lại đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, thăm di tích tàu không số của ta hy sinh trên Hòn Hèo năm nào.Với những dự án trên và với việc công ty đang tích cực trồng cây phía đầu nguồn để bảo vệ nguồn nước, Hoa Lan hứa hẹn sẽ là một khu du lịch sinh thái hấp dẫn cho nhiều đối tượng du khách trong những năm mở rộng thiên niên kỷ mới.
Ngô Xuân Hội – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Khát vọng du lịch miền Trung – Phần 2

Ở Huế, các dự án Khu du lịch Bạch Mã, Khu vui chơi giải trí Thiên An – Thủy Tiên, phục hồi Hồ Tịnh Tâm … đã đề ra từ lâu nhưng chưa thực hiện được. Ở Đà Nẵng, các dự án Làng văn hóa, du lịch Ngũ Hành Sơn, khu du lịch Non Nước, du lịch biển … cũng đang bức xúc về vốn. Thiết nghĩ, vốn đầu tư cho du lịch không thiếu. Chưa kể việc huy động đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước. Hiện nay ở một số tỉnh có những công trình được đầu tư rất lớn, nhưng tính khả thi thấp, trong lúc đó Du lịch thì ít được quan tâm.
Thứ hai là chính sách chưa thông thoáng. Hiện nay nhân dân, ở nhà cổ Hội An, nhà vườn Huế, các nhà đồng bào ở Tây Nguyên … rất muốn đón du khách du lịch tại nhà mình như một hộ kinh doanh. Thị xã Hội An đã cho phép gia đình đón khách ăn ngủ tại nhà; ở Huế dịp Festival 2000, một số nhà dân được đón khách quốc tế, nhưng với điều kiện phải làm vệ tinh cho khách sạn Nhà nước. Làm như thế không kích thích được du lịch nhân dân phát triển. Tuyến du lịch xuyên Á bằng đường bộ là thế mạnh của Du lịch miền Trung. Khách từ Thái Lan, Lào và các nước rất muốn đi du lịch cả nhà bằng ô tô riêng sang các điểm Du lịch miền Trung. Nhưng đi xin cho được thủ tục, giấy tờ quá khó. Vướng mắc chủ yếu về cơ chế quản lý xuất nhập cảnh và quy định an toàn giao thông đường bộ của phía Việt Nam. Giấy phép cấp cho từng chuyến do cơ quan có thẩm quyền cao nhất cấp. Được giấy phép rồi, tại cửa khẩu (Cầu Treo, Lao Bảo) phải làm đủ thứ thủ tục và phải chờ có cảnh sát giao thông dẫn đườn, khóa đuôi mới vào được lãnh thổ Việt Nam! Có câu chuyện bi hài ứa nước mắt: Vitours Đà Nẵng đổ bao nhiêu công sức để tiếp thi tạo được tour 100 khách từ Thái Lan đi du lịch miền Trung. Thế mà chương trình bị hủy bỏ hoàn toàn vì giấy phép được kí chậm mất một ngày so với chương trình đón khách! Ước gì các ngành chức năng đơn giản hóa thủ tục, nhanh hơn về thời gian, tạo điều kiện cho du lịch miền Trung cơ hội phát triển.
Thứ ba là sản phẩm du lịch chưa phong phú và ít đổi mới. Lâu nay ta chỉ khai thác văn hóa vật thể là các di tích, Lăng tẩm, đền đài … do cha ông để lại mà chưa đầu tư tạo ra sản phẩm du lịch mới. Kho tàng văn hóa phi vật thể không được chú trọng khai thác. Các lễ hội, các loại hình sân khấu dân gian, các điệu múa hát, văn hóa ẩm thực của các dân tộc … là thế mạnh, là nguồn gốc tiềm tàng để thu hút sự thích thú của du khách. Phải tạo ra nhiều chương trình như kiểu Đêm hội Trung thu ở Hội An, sinh hoạt buôn làng Tây Nguyên, ca Huế, ăn cơm vua, du lịch nhà vườn, tham quan lăng tẩm bằng xe ngựa song mã – tứ mã, hay phục chế lễ, thiết triều, lễ tế Đàn Nam Giao, sinh hoạt lễ hội của các dân tộc có nền văn hóa đậm nét như Chăm, Cờ tu, Ê đê, Gia rai, Mơ nông … để giữ chân du khách. Làm du lịch như thế ít vốn mà hiệu quả cao. Có lần đi thăm thánh địa Mỹ Sơn, tôi nghĩ giá mà tổ chức được các buổi trình diễn văn hóa Chăm lễ hội, múa Chăm, ẩm thực Chăm … chắc chắn khách du lịch sẽ đông hơn, ở lại lâu hơn. Muốn đổi mới sản phẩm phải đầu tư, hợp tác nghiên cứu, dàn dựng công phu, chứ không thể “bắt chước cứng nhắc” nơi khác được.
Miền Trung lạc hậu, thua kém hai đầu đất nước nhiều mặt về kinh tế. nhưng riêng về Du lịch, với nguồn vốn văn hóa lịch sử phong phú, thế kỷ XXI, nhất định miền trung sẽ sánh vai cùng đi lên với Du lịch cả nước.
Ngô Minh Khôi – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Khát vọng du lịch miền Trung – Phần 1

Thực hiện đổi mới, Du lịch miền Trung đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Nhiều trung tâm du lịch mạnh đã định hình như Huế, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang… trong 10 năm qua, lượng du khách du lịch đến miền Trung tăng bình quân trên 10% riêng các năm từ 1998 đến 2000 tăng cao hơn chỉ số bình quân của cả nước từ 12% đến 38% … Bước vào thế kỷ 21, Du lịch miền Trung đang cố gắng vượt qua những thách thức để thực hiện hóa khát vọng của mình: trở thành một vùng du lịch lớn của Việt Nam và khu vực.
Chuyển hướng đầu tư
Khai thác thế mạnh tiềm năng của mình, đặc biệt là các di sản thế giới, Du lịch miền Trung đã kịp thời chuyển hướng đầu tư từ xây dựng khách sạn tràn lan sang xây dựng các khu du lịch, phát triển sản phẩm du lịch. Tại Nha Trang, một loạt khu du lịch đã được hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả như Hòn Tằm, khu thủy cung Trí Nguyên, đảo Khỉ … Quảng Bình đã đầu tư 60 tỷ đồng cho khu du lịch Phong Nha. Quảng Trị đã đầu tư làm thêm điểm tham quan DMZ ở Tà Cơn, phục chế địa đạo Vĩnh Mốc. Thừa Thiên Huế xây dựng khu tắm nước khoáng Tân Mỹ, xây dựng khu du lịch Lăng Cô. Đà Nẵng bỏ ra trên 100 tỷ đồng xây dựng khu du lịch Bà Nà với tuyến cáp treo mỗi tháng thu trên 200 triệu đồng tiền vé; mở đường bay trực tiếp Đà Nẵng – Hồng Kông, Đà Nẵng – Thái Lan, tuyến du lịch biển Cù Lao Chàm, Cử Đại (Quảng Nam), Trường trung học du lịch Thừa Thiên – Huế (trực thuộc Tổng cục Du lịch) đã chiêu sinh khóa đầu tiên. Tất cả những sự khởi động đó sẽ là những “cú huých” cho sự tăng trưởng Du lịch miền Trung ! Chương trình du lịch các tỉnh miền Trung 5 năm 2001 – 2005 thể hiện qua các Đại hội Đảng các tỉnh đều tăng cao (từ 18 – 20%) so với 5 năm cuối thế kỷ 20. Thành phố Đà Nẵng đang triển khai các dự án khu du lịch Ngũ Hành Sơn, dự án sân gôn, khu du lịch Mỹ Đa Đông, đẩy mạnh dịch vụ du lịch biển, khai thác các loại hình du lịch sinh thái cùng bán đảo Sơn Trà, đèo Hải Vân, khu nghỉ mát Bà Nà; đầu tư cải tạo và nâng cấp sân bay quốc tế, xúc tiến mở thêm hai đường bay mới Đà Nẵng – Singapore, Đà Nẵng – Đài Loan. Thừa Thiên – Huế đã quyết định thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phục vụ phát triển kinh tế và du lịch trong môi trường bền vững … Ngay trong 2 tháng đầu năm 2001, nhiều tỉnh như Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế, khách du lịch tăng hơn cùng kỳ năm trước.
Những vấn đề lớn cần tháo gỡ
Để trở thành một vùng du lịch lớn của Việt Nam. Du lịch miền Trung cần phải tập trung tháo gỡ nhiều vấn đề.
Thứ nhất là các địa phương đầu tư cho Du lịch chưa mạnh dạn. Ngành Du lịch ngoài việc nộp ngân sách, còn tham gia giải quyết công việc làm cho hàng chục vạn hộ dân thành thị và nông thôn ở các tỉnh (ở Huế ước khoảng 100.000 người sống bằng dịch vụ du lịch). Rất ít ngành kinh tế có thể làm được việc này. Ngành du lịch còn tham gia “xuất khẩu tại chỗ”. Nhưng không có sản phẩm du lịch hấp dẫn thì sẽ không thu hút được khách, không tăng được thời gian lưu trú. Cho nên phải đầu tư mạnh dạn vào việc làm ra nhiều sản phẩm du lịch.
Ngô Minh Khôi – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Bão địa từ – nỗi lo năm 2000

Các nhà thiên văn học cho biết, khoảng 10 tháng nữa, mặt trời sẽ “trở mình” theo một chu kỳ 11 năm một lần dưới hình thức của một cơn bão mà các nhà khoa học gọi là bão mặt trời. Đó là hiện tượng biến đổi của mặt trời từ khối khí nóng ion hóa bình thường trở thành một cơn bão plasma dữ dội, bắn ra những khối cầu lửa khổng lồ vào hệ mặt trời. Mỗi quả cầu lửa là sự phun trào mãnh liệt của những vòng cung lửa có hình elíp và là dòng xoáy khổng lồ của các khối khí ion hóa lên đến hàng triệu độ. Từ trường của trái đất sẽ bị ảnh hưởng mạnh bởi cơn bão plasma này. Những vùng bị ảnh hưởng có thể mất điện một phần hoặc toàn bộ.
Cơn bão mặt trời gần đây nhất xảy ra vào ngày 13/3/1989. Canada là nước chịu ảnh hưởng lớn nhất. Gần 6 triệu người dân ở tỉnh Quebec bị mất điện, lò sưởi không sử dụng được trong khi nhiệt độ xuống tới -15°C, hệ thống xe điện ngầm bị đình trệ, đèn giao thông không hoạt động, các trạm bơm xăng bị kẹt…
Bão mặt trời và hiện tượng dòng cảm ứng địa từ đã được nhận biết một cách rõ ràng. Nó vận hành như nguyên lý của máy phát điện một chiều. Khi từ trường biến thiên sẽ tạo ra dòng điện trong dây dẫn. Cũng như thế khi bão từ trường tác động tới trái đất , mọi hệ thống dây dẫn điện có cùng biên dộ dao động của từ trường cơn bão thì từ trường của cơn bão sẽ đóng vai trò của một máy phát điện một chiều khổng lồ. Hệ thống dây dẫn sẽ đưa các dòng cảm ứng điện từ tới các bộ phận nhạy cảm như máy biến thế của các trạm điện và các trạm bù. Các máy biến thế hiệu suất cao rất nhạy cảm. Chúng được thiết kế tương ứng với hiệu điện thế trong một dải biên độ và một dải tần số đặc biệt. Ngoài biên độ này hoạt động của máy biến thế sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát. Vấn đề là khi hiệu điện thế được liên kết với dòng cảm điện từ sẽ làm thay đổi sự cân bằng nhạy cảm này. Hậu quả là làm mất cân bằng hiệu điện thế. Khi đó, dòng điện mà không được ngắt máy biến thế sẽ sinh nhiệt và làm hỏng hoàn toàn lõi sắt của máy. Tệ hơn là những dao động điện thế này sẽ diễn ra rất nhanh thông qua hệ thống máy vi tính nên tất cả các máy biến thế trên lưới điện sẽ bị ảnh hưởng. Chỉ vài giây, toàn bộ hệ thống mạng sẽ bị đình trệ ~ từng trạm biến thế nối tiếp nhau bị ảnh hưởng. Chính vì thế mà cơn bão địa từ năm 1989 đã làm tê liệt nhiều nhà máy điện khắp nơi trên thế giới. Tại bang New Jersey của Mỹ khung từ của máy biến thế tại một nhà máy điện đã bốc cháy. Chi phí cho việc này tốn tới vài chục triệu đô la.
Để đối phó với cơn bão địa từ sắp tới các nhà khoa học cũng sẽ phải thiết kế một loạt các máy tính cực kỳ hiện đại dùng làm hệ thống dự phòng để duy trì hoạt động của mạng viễn thông quốc tế.
Nhà máy điện Quebec đã chi 1,2 tỷ đô la để lắp đặt các tụ điện mới và các thiết bị theo dõi, điều hòa hiệu điện thế và cảnh báo cho người điều khiển hệ thống tái phân phối dòng tải đến các bộ phận khác của hệ thống mạng, đưa các máy phát điện điều khiển trực tiếp vào các khu vực riêng biệt khi có sự cố xảy ra do bão địa từ.
Dự báo được mức độ ảnh hưởng của bão địa từ lên trái đất là điều khó khăn. Bởi vì lực tương tác giữa từ trường trái đất và các phần tử trong lớp plasma nóng là một việc phức tạp. Các nhà bác học đang cố gắng tìm lời giải đáp cho các vấn đề này. Bằng cách kết hợp các mẫu hình của trường điện từ và tính dẫn điện của bề mặt trái đất các nhà khoa học đã chế tạo ra một thiết bị phân tích dữ liệu về bão địa từ nhằm hạn chế những tác hại do thiên tai này gây ra cho mạng lưới điện. Hiện nay ở Cannada, một tổ hợp máy tính Power Cast nối mạng tự động với 900 trạm biến thế để sàng lọc dữ liệu khi có biến cố xảy ra. Người ta còn tiến hành phóng vào không gian một con tàu vũ trụ không người lái dùng để sẵn sàng báo về trái đất những gì liên quan tới cơn bão này. Nó sẽ tiến hành đo đạc kết cấu của gió mặt trời và đưa ra lời cảnh báo trước khi cơn bão ập đến chừng 1 giờ.
Hiện tại bão địa từ vẫn là bài toán nan giải cho các nhà khoa học. liệu nó sẽ mang lại những hậu quả gì? Đây cùng chính là cơ hội để các nhà khoa học tìm hiểu thêm những bí ẩn đằng sau khối cầu lửa khổng lồ này. Thời gian không còn nhiều, tất cả đều đang trong chờ vào sự nỗ lực của các chuyên gia và sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật.
Tuấn Châu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Đi làm Tết đã là chuyện thường ngày

Lần đầu tiên sang Việt Nam, vừa đặt chân xuống sân bay, trao tờ khai nhập cảnh cho cán bộ hải quan, Herry – Chuyên viên của một công ty thương mại Pháp, thoáng ngạc nhiên khi nhận được một lời chúc bằng Tiếng anh “Happy New Year” của một nữ hải quan Việt Nam còn trẻ và khá xinh đẹp. Thấy vậy cô gái tươi cười giải thích “Hôm nay là ngày Tết cỏ truyền của Việt Nam. Theo tục lệ của đất nước tôi anh là người khách ‘xông đất”. Chúc anh gặp nhiều may mắn”.
Làm việc lâu ở Việt Nam Herry chúc anh gặp nhiều may mắn”.
Làm việc lâu ở Việt Nam Herry mới thấu hiểu rằng, ngày Tết cổ truyền đối với Việt Nam rất thiêng liêng. Nếu không có việc gì quan trọng, họ sẽ không xa gia đình trong những ngày Tết. Cô gái Việt Nam với lòng hiếu khách của mình không chỉ dành những lời chúc tốt đẹp tình cảm quý trọng cho khách mà vì nhiệm vụ cô đang cố gắng hoàn thành hoàn tất nhanh chóng thủ tục cho các chuyến bay trong khi hàng triệu người Việt Nam đang náo nức, rộn ràng đón ngày tết cổ truyền cùng gia đình người thân. Kỷ niệm nho nhỏ sang mồng một Tết đó đã để lại những ấn tượng đẹp tốt đẹp về đất nước Việt Nam, về người nữ cán bộ hải quan xinh tươi, lịch thiệp trong tâm trí chàng trai người Pháp. Niềm vui của người khách cũng lan sang người nữ cán bộ hải quan sân bay Nội Bài, khiến cô càng tự hào về nghề nghiệp của mình. Mới về công tác đây cũng là cái tết đầu tiên cô không có mặt đầy đủ ở nhà. Nhưng cô không phải là người cá biệt, bởi cùng với cô an hem trong đơn vị đều có mặt đầy đủ tại các vị trí công tác. Ngày hôm nay hay vẫn đi làm như mọi ngày, có khác hơn trong phòng làm việc có cắm cành hoa đào, ngoài cửa có trồng những chậu quất bữa trưa thay vì ăn cơm hộp sẽ có những chiếc bánh chưng được mang đi từ nhà… Và mọi người chỉ nhớ đến Tết kín tiếng chuông điện thoại chúc mừng năm mới của bạn bè, các đơn vị xung quanh vang lên rộn rã. Anh Lê Trọng Hùng – đội trưởng đội nhập Hải quan sân bay Nội Bài, cho biết: Đây chỉ là Tết cổ truyền của riêng dân tộc ta và một vài nước Đông Nam Á khác nên lịch các chuyến bay quốc tế vẫn bình thường, thậm chí khách còn đông hơn ngày thường vì có không ít khách quốc tế muốn đến Việt Nam, tham quan du lịch vào đúng dịp này. Chính vì vậy việc đi làm ngày Tết đã trở thành chuyện “thường ngày” đối với các cán bộ chiến sĩ hải quan Nội Bài. Ấy là nói vậy chứ không phải không có lúc nào thoáng “chạnh lòng”. Nhất là chiều 30 Tết khi mà tất cả thành viên trong gia đình dù ở cách xa cũng đã tụ tập về đoàn tụ cùng nhau sửa soạn mâm cổ cúng tổ tiên, mình là chồng, là chủ gia đình lại vắng mặt. Những lúc ấy thương vợ thương con vô cùng. Do đặc điểm công việc ở sân bay quốc tế lớn, khách xuất nhập cảnh đông, cả năm cứ đi mải miết từ sáng sớm đến tối muộn, đến ngày Tết cũng không trọn vẹn. Bảo là ở biên giới xa xôi đã đành, đây chỉ cách Hà Nội chưa đầy 30 km.
Những năm gần đây khách du lịch thường thích đến Việt Nam vào dịp Tết nguyên đán, nên lực luợng hải quan cũng phải bố trí đầy đủ để làm thủ tục cho khách. Chỉ tính riêng Tết Nguyên Đán Canh Thìn vừa qua đã tới 12 nghìn luợt khách nhập cảnh vào Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái – Quảng Ninh tâm sự với chúng tôi, một chàng trai Hà Nội còn rất trẻ tên là Nam cho biết: “Còn nhớ năm đầu tiên khi em ở lại trực không về với bố mẹ em buồn lắm vì nhà có mỗi cậu con trai lại ăn tết xa nhà. Mùng 3 Tết mẹ em đem theo tất cả số bánh chưng đến thăm em và định xin lãnh đạo cho em về. Nhìn thấy lãnh đạo an hem trong đơn vị có ngừoi còn có gia đình, bố mẹ già, con nhỏ nhưng vẫn ở lại làm nhiệm vụ mẹ em mới hiểu. Những cái Tết sau này nếu em không về bố mẹ em tuy có buồn nhưng càng thuơng con và anhn em trong đơn vị hơn”. Vừa rồi Nam gọi điện báo cáo cho tôi biết năm nay cậu lại ăn Tết xa ở Hà Nội. Cũng quen rồi, giờ không phải “đả thông” cho bố mẹ hiểu nữa nhưng lại chuyển sang phải làm công tác tư tuởng cho người yêu.
“Không biết nàng có thông cảm không vì em hứa mùng Một Tết đến ra mắt bố mẹ vợ tương lai. Vậy là đành lỡ hẹn”. Tôi tin rằng, cô bạn gái của Nam sẽ hiểu và thông cảm việc của người mình yêu. Bởi nếu không sau này khi đã là vợ, người mẹ sẽ có những cái Tết khác chồng cô phải ăn tết xa nhà.
Còn rất nhiều cán bộ chiến sĩ Hải quan trên nhiều lĩnh vực công tác khác nhau không được hưởng những cái tết sum vầy sum họp cùng gia đình, ở nhiều cửa khẩu biên giới xa xôi mà chúng tôi đã đến như Bình Hiệp Long An, Chalo (Quảng Bình), Nậm Cắn (Nghệ An), Na Mèo (Thanh Hóa), Pò Peo (Cao Bằng)… nơi quanh năm có rất ít người và hàng hóa qua lại, nhưng vẫn cần phải có các lực lượng như Hải quan, Biên phòng trực làm nhiệm vụ. Tết của những người chiến sĩ hải quan nơi đây là những cái Tết xa nhà với nhiều nỗi nhớ, nhiều tình cảm ngổn ngang gửi gắm về quê nhà. Họ đã hy sinh hạnh phúc nhỏ bé của mình để góp sức hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó cho những người chiến sĩ hải quan đang ngày đêm bảo vệ, giữ vững an ninh biên giới, xứng đáng là những người lính gác của nền kinh tế đất nước.
Hà Phương – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001