Khu du lịch của Thiên niên kỷ mới

Suối Hoa Lan – Khu du lịch của Thiên niên kỷ mới
Suối Hoa Lan (còn gọi là suối Tử Sĩ) nằm trong dãy núi Hòn Hèo, thuộc xã Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang 17 km về phía Bắc. Suối dài 6km, được hình thành từ rất nhiều suối nhỏ của những ngọn núi trong dãy Hòn Hèo. Dọc suối, đủ loại cây rừng mọc quấn quýt bên nhau, thành tầng thành lớp. Đặc biệt, suối có rất nhiều hoa phong lan.
Sau khi chảy qua những ghềnh thác cheo leo, Hoa Lan đổ nước trực tiếp vào vịnh Nha Phu, một vịnh biển xinh đẹp trù phú của Nha Trang. Nối vịnh biển và dãy Hòn Hèo là một khoảng đất bằng, diện tích quãng 20 ha, nghĩa là chỉ trong một khoảng không gian không rộng lắm, Hoa Lan đã trải mình qua cả ba hình thế: núi cao, đồng bằng và cả ven biển.
Tận dụng được những ưu thế thiên phú này của suối, cuối năm 1998 Công ty Khách sạn Hoàng Gia, thuộc xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá Khánh Hòa (Khataco) đã tiến hành đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái suối Hoa Lan. Trên mặt bằng dưới chân núi, Công ty san ủi làm, đường đi, xây nhà cửa , trong cây xanh cho bóng mát, xây hình nuôi cá sấu. Các nhà sàn nhà nấm được thiết kế phù hợp với khung cảnh của thiên nhiên. Công ty còn chuẩn bị nhiều lều vó, giường tắm nắng, phao phơi, ghế bố phục vụ những du khách có nhu cầu tắm biển. Phần chính suối Hoa Lan, phía tả ngạn, công ty đường bộ dọc sườn núi song song với suối, xây bậc cấp ở những đoạn đường dốc để khu du lịch lên xuống dễ dàng. Từ con đường bộ này là những con đường nhánh đi xuống thác, lần lượt từ thác số 1 ở dưới thấp, đến thác số 4 ở trên cao đẻ giúp khách chim ngưỡng vẻ đẹp của đá, nước, của cây rừng.
Với 30.000đ/tour cho một người, tour du lịch đến với Hoa Lan bắt đầu từ bến Đá Chồng nằm bên quốc lộ I ở địa phận xã Vĩnh Lương, TP. Nha Trang, du khách được đưa đi bằng tàu thủy qua vịnh Nha Phu. Sau 30 phút, tàu cập bến đến Hòn Hèo. Trên tảng đá dưới chân suối còn nguyên dòng chữ Chàm cổ được khắc sâu rất đẹp, ghi sự kiện một ông vua Chàm ngày trước từng hành hương lên Hoa Lan. Lần theo bước chân người xưa, chúng tôi gặp những ghềnh đá kỳ vĩ. Tùy độ bền của đôi chân, khách có thể dừng ở thác số 1, số 2 hoặc lên cao hơn nữa. Mỗi thác một dáng hình, một vẻ đẹp. Khi đã mỏi chân, bất cứ ai cũng có thể ngả lưng trên những thạch bàn, ngắm nhìn trời xanh qua kẽ lá, hoặc tắm mình trong làn nước tinh khiết, mát lạnh của suối.
Nhờ những ưu thế về địa hình, khoảng cách… từ ngày mở cửa đến nay, Hoa Lan thu hút đủ thành phần du khách. Đông nhất là các bạn trẻ và khách du lịch nước ngoài. Núi Hòn Hèo cao 700m, nhưng độ cao của ngọn thác số 4 (thác cao nhất trong tour hiện nay) là 350m, rất vừa cho một tour dã ngoại. Thời gian đi từ bến Đá Chồng cho đến khi trở lại, cuộc vui chơi của khách kéo dài 4 đến 5 giờ đồng hồ. Cũng có nhiều du khách thích ở qua đêm bên Hoa Lan để được sống trong cảnh hoang sơ của rừng núi. Đêm giao thừa năm 2000, hơn 500 bạn trẻ ở Khánh Hòa và TP. Hồ Chí Minh đã cắm trại bên suối. Đêm 16/3/2000, một đoàn 450 du khách của hãng Sony để nghỉ ngơi trong những ngôi nhà sàn dưới chân mũi. Khi kể với chúng tôi những điều này, chị Nguyễn Thị Hiền, Giám đốc Công ty Khách sạn Hoàng Gia đang ôm ấp một dự án phát triển môn leo núi ở Hoa Lan một công ty đã đăng ký với Didier, một doanh nhân người Pháp thông qua sự môi giới của công ty Lửa Việt ở TP. Hồ Chí Minh.
Cùng với sự phát triển của môn leo núi, nhân kỷ niệm 56 năm thành lập QDND Việt Nam 22/12/2000 công ty đã khai trương tuyến du lịch thăm lại đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, thăm di tích tàu không số của ta hy sinh trên Hòn Hèo năm nào.Với những dự án trên và với việc công ty đang tích cực trồng cây phía đầu nguồn để bảo vệ nguồn nước, Hoa Lan hứa hẹn sẽ là một khu du lịch sinh thái hấp dẫn cho nhiều đối tượng du khách trong những năm mở rộng thiên niên kỷ mới.
Ngô Xuân Hội – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Khát vọng du lịch miền Trung – Phần 2

Ở Huế, các dự án Khu du lịch Bạch Mã, Khu vui chơi giải trí Thiên An – Thủy Tiên, phục hồi Hồ Tịnh Tâm … đã đề ra từ lâu nhưng chưa thực hiện được. Ở Đà Nẵng, các dự án Làng văn hóa, du lịch Ngũ Hành Sơn, khu du lịch Non Nước, du lịch biển … cũng đang bức xúc về vốn. Thiết nghĩ, vốn đầu tư cho du lịch không thiếu. Chưa kể việc huy động đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước. Hiện nay ở một số tỉnh có những công trình được đầu tư rất lớn, nhưng tính khả thi thấp, trong lúc đó Du lịch thì ít được quan tâm.
Thứ hai là chính sách chưa thông thoáng. Hiện nay nhân dân, ở nhà cổ Hội An, nhà vườn Huế, các nhà đồng bào ở Tây Nguyên … rất muốn đón du khách du lịch tại nhà mình như một hộ kinh doanh. Thị xã Hội An đã cho phép gia đình đón khách ăn ngủ tại nhà; ở Huế dịp Festival 2000, một số nhà dân được đón khách quốc tế, nhưng với điều kiện phải làm vệ tinh cho khách sạn Nhà nước. Làm như thế không kích thích được du lịch nhân dân phát triển. Tuyến du lịch xuyên Á bằng đường bộ là thế mạnh của Du lịch miền Trung. Khách từ Thái Lan, Lào và các nước rất muốn đi du lịch cả nhà bằng ô tô riêng sang các điểm Du lịch miền Trung. Nhưng đi xin cho được thủ tục, giấy tờ quá khó. Vướng mắc chủ yếu về cơ chế quản lý xuất nhập cảnh và quy định an toàn giao thông đường bộ của phía Việt Nam. Giấy phép cấp cho từng chuyến do cơ quan có thẩm quyền cao nhất cấp. Được giấy phép rồi, tại cửa khẩu (Cầu Treo, Lao Bảo) phải làm đủ thứ thủ tục và phải chờ có cảnh sát giao thông dẫn đườn, khóa đuôi mới vào được lãnh thổ Việt Nam! Có câu chuyện bi hài ứa nước mắt: Vitours Đà Nẵng đổ bao nhiêu công sức để tiếp thi tạo được tour 100 khách từ Thái Lan đi du lịch miền Trung. Thế mà chương trình bị hủy bỏ hoàn toàn vì giấy phép được kí chậm mất một ngày so với chương trình đón khách! Ước gì các ngành chức năng đơn giản hóa thủ tục, nhanh hơn về thời gian, tạo điều kiện cho du lịch miền Trung cơ hội phát triển.
Thứ ba là sản phẩm du lịch chưa phong phú và ít đổi mới. Lâu nay ta chỉ khai thác văn hóa vật thể là các di tích, Lăng tẩm, đền đài … do cha ông để lại mà chưa đầu tư tạo ra sản phẩm du lịch mới. Kho tàng văn hóa phi vật thể không được chú trọng khai thác. Các lễ hội, các loại hình sân khấu dân gian, các điệu múa hát, văn hóa ẩm thực của các dân tộc … là thế mạnh, là nguồn gốc tiềm tàng để thu hút sự thích thú của du khách. Phải tạo ra nhiều chương trình như kiểu Đêm hội Trung thu ở Hội An, sinh hoạt buôn làng Tây Nguyên, ca Huế, ăn cơm vua, du lịch nhà vườn, tham quan lăng tẩm bằng xe ngựa song mã – tứ mã, hay phục chế lễ, thiết triều, lễ tế Đàn Nam Giao, sinh hoạt lễ hội của các dân tộc có nền văn hóa đậm nét như Chăm, Cờ tu, Ê đê, Gia rai, Mơ nông … để giữ chân du khách. Làm du lịch như thế ít vốn mà hiệu quả cao. Có lần đi thăm thánh địa Mỹ Sơn, tôi nghĩ giá mà tổ chức được các buổi trình diễn văn hóa Chăm lễ hội, múa Chăm, ẩm thực Chăm … chắc chắn khách du lịch sẽ đông hơn, ở lại lâu hơn. Muốn đổi mới sản phẩm phải đầu tư, hợp tác nghiên cứu, dàn dựng công phu, chứ không thể “bắt chước cứng nhắc” nơi khác được.
Miền Trung lạc hậu, thua kém hai đầu đất nước nhiều mặt về kinh tế. nhưng riêng về Du lịch, với nguồn vốn văn hóa lịch sử phong phú, thế kỷ XXI, nhất định miền trung sẽ sánh vai cùng đi lên với Du lịch cả nước.
Ngô Minh Khôi – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Khát vọng du lịch miền Trung – Phần 1

Thực hiện đổi mới, Du lịch miền Trung đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Nhiều trung tâm du lịch mạnh đã định hình như Huế, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang… trong 10 năm qua, lượng du khách du lịch đến miền Trung tăng bình quân trên 10% riêng các năm từ 1998 đến 2000 tăng cao hơn chỉ số bình quân của cả nước từ 12% đến 38% … Bước vào thế kỷ 21, Du lịch miền Trung đang cố gắng vượt qua những thách thức để thực hiện hóa khát vọng của mình: trở thành một vùng du lịch lớn của Việt Nam và khu vực.
Chuyển hướng đầu tư
Khai thác thế mạnh tiềm năng của mình, đặc biệt là các di sản thế giới, Du lịch miền Trung đã kịp thời chuyển hướng đầu tư từ xây dựng khách sạn tràn lan sang xây dựng các khu du lịch, phát triển sản phẩm du lịch. Tại Nha Trang, một loạt khu du lịch đã được hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả như Hòn Tằm, khu thủy cung Trí Nguyên, đảo Khỉ … Quảng Bình đã đầu tư 60 tỷ đồng cho khu du lịch Phong Nha. Quảng Trị đã đầu tư làm thêm điểm tham quan DMZ ở Tà Cơn, phục chế địa đạo Vĩnh Mốc. Thừa Thiên Huế xây dựng khu tắm nước khoáng Tân Mỹ, xây dựng khu du lịch Lăng Cô. Đà Nẵng bỏ ra trên 100 tỷ đồng xây dựng khu du lịch Bà Nà với tuyến cáp treo mỗi tháng thu trên 200 triệu đồng tiền vé; mở đường bay trực tiếp Đà Nẵng – Hồng Kông, Đà Nẵng – Thái Lan, tuyến du lịch biển Cù Lao Chàm, Cử Đại (Quảng Nam), Trường trung học du lịch Thừa Thiên – Huế (trực thuộc Tổng cục Du lịch) đã chiêu sinh khóa đầu tiên. Tất cả những sự khởi động đó sẽ là những “cú huých” cho sự tăng trưởng Du lịch miền Trung ! Chương trình du lịch các tỉnh miền Trung 5 năm 2001 – 2005 thể hiện qua các Đại hội Đảng các tỉnh đều tăng cao (từ 18 – 20%) so với 5 năm cuối thế kỷ 20. Thành phố Đà Nẵng đang triển khai các dự án khu du lịch Ngũ Hành Sơn, dự án sân gôn, khu du lịch Mỹ Đa Đông, đẩy mạnh dịch vụ du lịch biển, khai thác các loại hình du lịch sinh thái cùng bán đảo Sơn Trà, đèo Hải Vân, khu nghỉ mát Bà Nà; đầu tư cải tạo và nâng cấp sân bay quốc tế, xúc tiến mở thêm hai đường bay mới Đà Nẵng – Singapore, Đà Nẵng – Đài Loan. Thừa Thiên – Huế đã quyết định thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phục vụ phát triển kinh tế và du lịch trong môi trường bền vững … Ngay trong 2 tháng đầu năm 2001, nhiều tỉnh như Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế, khách du lịch tăng hơn cùng kỳ năm trước.
Những vấn đề lớn cần tháo gỡ
Để trở thành một vùng du lịch lớn của Việt Nam. Du lịch miền Trung cần phải tập trung tháo gỡ nhiều vấn đề.
Thứ nhất là các địa phương đầu tư cho Du lịch chưa mạnh dạn. Ngành Du lịch ngoài việc nộp ngân sách, còn tham gia giải quyết công việc làm cho hàng chục vạn hộ dân thành thị và nông thôn ở các tỉnh (ở Huế ước khoảng 100.000 người sống bằng dịch vụ du lịch). Rất ít ngành kinh tế có thể làm được việc này. Ngành du lịch còn tham gia “xuất khẩu tại chỗ”. Nhưng không có sản phẩm du lịch hấp dẫn thì sẽ không thu hút được khách, không tăng được thời gian lưu trú. Cho nên phải đầu tư mạnh dạn vào việc làm ra nhiều sản phẩm du lịch.
Ngô Minh Khôi – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Bão địa từ – nỗi lo năm 2000

Các nhà thiên văn học cho biết, khoảng 10 tháng nữa, mặt trời sẽ “trở mình” theo một chu kỳ 11 năm một lần dưới hình thức của một cơn bão mà các nhà khoa học gọi là bão mặt trời. Đó là hiện tượng biến đổi của mặt trời từ khối khí nóng ion hóa bình thường trở thành một cơn bão plasma dữ dội, bắn ra những khối cầu lửa khổng lồ vào hệ mặt trời. Mỗi quả cầu lửa là sự phun trào mãnh liệt của những vòng cung lửa có hình elíp và là dòng xoáy khổng lồ của các khối khí ion hóa lên đến hàng triệu độ. Từ trường của trái đất sẽ bị ảnh hưởng mạnh bởi cơn bão plasma này. Những vùng bị ảnh hưởng có thể mất điện một phần hoặc toàn bộ.
Cơn bão mặt trời gần đây nhất xảy ra vào ngày 13/3/1989. Canada là nước chịu ảnh hưởng lớn nhất. Gần 6 triệu người dân ở tỉnh Quebec bị mất điện, lò sưởi không sử dụng được trong khi nhiệt độ xuống tới -15°C, hệ thống xe điện ngầm bị đình trệ, đèn giao thông không hoạt động, các trạm bơm xăng bị kẹt…
Bão mặt trời và hiện tượng dòng cảm ứng địa từ đã được nhận biết một cách rõ ràng. Nó vận hành như nguyên lý của máy phát điện một chiều. Khi từ trường biến thiên sẽ tạo ra dòng điện trong dây dẫn. Cũng như thế khi bão từ trường tác động tới trái đất , mọi hệ thống dây dẫn điện có cùng biên dộ dao động của từ trường cơn bão thì từ trường của cơn bão sẽ đóng vai trò của một máy phát điện một chiều khổng lồ. Hệ thống dây dẫn sẽ đưa các dòng cảm ứng điện từ tới các bộ phận nhạy cảm như máy biến thế của các trạm điện và các trạm bù. Các máy biến thế hiệu suất cao rất nhạy cảm. Chúng được thiết kế tương ứng với hiệu điện thế trong một dải biên độ và một dải tần số đặc biệt. Ngoài biên độ này hoạt động của máy biến thế sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát. Vấn đề là khi hiệu điện thế được liên kết với dòng cảm điện từ sẽ làm thay đổi sự cân bằng nhạy cảm này. Hậu quả là làm mất cân bằng hiệu điện thế. Khi đó, dòng điện mà không được ngắt máy biến thế sẽ sinh nhiệt và làm hỏng hoàn toàn lõi sắt của máy. Tệ hơn là những dao động điện thế này sẽ diễn ra rất nhanh thông qua hệ thống máy vi tính nên tất cả các máy biến thế trên lưới điện sẽ bị ảnh hưởng. Chỉ vài giây, toàn bộ hệ thống mạng sẽ bị đình trệ ~ từng trạm biến thế nối tiếp nhau bị ảnh hưởng. Chính vì thế mà cơn bão địa từ năm 1989 đã làm tê liệt nhiều nhà máy điện khắp nơi trên thế giới. Tại bang New Jersey của Mỹ khung từ của máy biến thế tại một nhà máy điện đã bốc cháy. Chi phí cho việc này tốn tới vài chục triệu đô la.
Để đối phó với cơn bão địa từ sắp tới các nhà khoa học cũng sẽ phải thiết kế một loạt các máy tính cực kỳ hiện đại dùng làm hệ thống dự phòng để duy trì hoạt động của mạng viễn thông quốc tế.
Nhà máy điện Quebec đã chi 1,2 tỷ đô la để lắp đặt các tụ điện mới và các thiết bị theo dõi, điều hòa hiệu điện thế và cảnh báo cho người điều khiển hệ thống tái phân phối dòng tải đến các bộ phận khác của hệ thống mạng, đưa các máy phát điện điều khiển trực tiếp vào các khu vực riêng biệt khi có sự cố xảy ra do bão địa từ.
Dự báo được mức độ ảnh hưởng của bão địa từ lên trái đất là điều khó khăn. Bởi vì lực tương tác giữa từ trường trái đất và các phần tử trong lớp plasma nóng là một việc phức tạp. Các nhà bác học đang cố gắng tìm lời giải đáp cho các vấn đề này. Bằng cách kết hợp các mẫu hình của trường điện từ và tính dẫn điện của bề mặt trái đất các nhà khoa học đã chế tạo ra một thiết bị phân tích dữ liệu về bão địa từ nhằm hạn chế những tác hại do thiên tai này gây ra cho mạng lưới điện. Hiện nay ở Cannada, một tổ hợp máy tính Power Cast nối mạng tự động với 900 trạm biến thế để sàng lọc dữ liệu khi có biến cố xảy ra. Người ta còn tiến hành phóng vào không gian một con tàu vũ trụ không người lái dùng để sẵn sàng báo về trái đất những gì liên quan tới cơn bão này. Nó sẽ tiến hành đo đạc kết cấu của gió mặt trời và đưa ra lời cảnh báo trước khi cơn bão ập đến chừng 1 giờ.
Hiện tại bão địa từ vẫn là bài toán nan giải cho các nhà khoa học. liệu nó sẽ mang lại những hậu quả gì? Đây cùng chính là cơ hội để các nhà khoa học tìm hiểu thêm những bí ẩn đằng sau khối cầu lửa khổng lồ này. Thời gian không còn nhiều, tất cả đều đang trong chờ vào sự nỗ lực của các chuyên gia và sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật.
Tuấn Châu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Đi làm Tết đã là chuyện thường ngày

Lần đầu tiên sang Việt Nam, vừa đặt chân xuống sân bay, trao tờ khai nhập cảnh cho cán bộ hải quan, Herry – Chuyên viên của một công ty thương mại Pháp, thoáng ngạc nhiên khi nhận được một lời chúc bằng Tiếng anh “Happy New Year” của một nữ hải quan Việt Nam còn trẻ và khá xinh đẹp. Thấy vậy cô gái tươi cười giải thích “Hôm nay là ngày Tết cỏ truyền của Việt Nam. Theo tục lệ của đất nước tôi anh là người khách ‘xông đất”. Chúc anh gặp nhiều may mắn”.
Làm việc lâu ở Việt Nam Herry chúc anh gặp nhiều may mắn”.
Làm việc lâu ở Việt Nam Herry mới thấu hiểu rằng, ngày Tết cổ truyền đối với Việt Nam rất thiêng liêng. Nếu không có việc gì quan trọng, họ sẽ không xa gia đình trong những ngày Tết. Cô gái Việt Nam với lòng hiếu khách của mình không chỉ dành những lời chúc tốt đẹp tình cảm quý trọng cho khách mà vì nhiệm vụ cô đang cố gắng hoàn thành hoàn tất nhanh chóng thủ tục cho các chuyến bay trong khi hàng triệu người Việt Nam đang náo nức, rộn ràng đón ngày tết cổ truyền cùng gia đình người thân. Kỷ niệm nho nhỏ sang mồng một Tết đó đã để lại những ấn tượng đẹp tốt đẹp về đất nước Việt Nam, về người nữ cán bộ hải quan xinh tươi, lịch thiệp trong tâm trí chàng trai người Pháp. Niềm vui của người khách cũng lan sang người nữ cán bộ hải quan sân bay Nội Bài, khiến cô càng tự hào về nghề nghiệp của mình. Mới về công tác đây cũng là cái tết đầu tiên cô không có mặt đầy đủ ở nhà. Nhưng cô không phải là người cá biệt, bởi cùng với cô an hem trong đơn vị đều có mặt đầy đủ tại các vị trí công tác. Ngày hôm nay hay vẫn đi làm như mọi ngày, có khác hơn trong phòng làm việc có cắm cành hoa đào, ngoài cửa có trồng những chậu quất bữa trưa thay vì ăn cơm hộp sẽ có những chiếc bánh chưng được mang đi từ nhà… Và mọi người chỉ nhớ đến Tết kín tiếng chuông điện thoại chúc mừng năm mới của bạn bè, các đơn vị xung quanh vang lên rộn rã. Anh Lê Trọng Hùng – đội trưởng đội nhập Hải quan sân bay Nội Bài, cho biết: Đây chỉ là Tết cổ truyền của riêng dân tộc ta và một vài nước Đông Nam Á khác nên lịch các chuyến bay quốc tế vẫn bình thường, thậm chí khách còn đông hơn ngày thường vì có không ít khách quốc tế muốn đến Việt Nam, tham quan du lịch vào đúng dịp này. Chính vì vậy việc đi làm ngày Tết đã trở thành chuyện “thường ngày” đối với các cán bộ chiến sĩ hải quan Nội Bài. Ấy là nói vậy chứ không phải không có lúc nào thoáng “chạnh lòng”. Nhất là chiều 30 Tết khi mà tất cả thành viên trong gia đình dù ở cách xa cũng đã tụ tập về đoàn tụ cùng nhau sửa soạn mâm cổ cúng tổ tiên, mình là chồng, là chủ gia đình lại vắng mặt. Những lúc ấy thương vợ thương con vô cùng. Do đặc điểm công việc ở sân bay quốc tế lớn, khách xuất nhập cảnh đông, cả năm cứ đi mải miết từ sáng sớm đến tối muộn, đến ngày Tết cũng không trọn vẹn. Bảo là ở biên giới xa xôi đã đành, đây chỉ cách Hà Nội chưa đầy 30 km.
Những năm gần đây khách du lịch thường thích đến Việt Nam vào dịp Tết nguyên đán, nên lực luợng hải quan cũng phải bố trí đầy đủ để làm thủ tục cho khách. Chỉ tính riêng Tết Nguyên Đán Canh Thìn vừa qua đã tới 12 nghìn luợt khách nhập cảnh vào Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái – Quảng Ninh tâm sự với chúng tôi, một chàng trai Hà Nội còn rất trẻ tên là Nam cho biết: “Còn nhớ năm đầu tiên khi em ở lại trực không về với bố mẹ em buồn lắm vì nhà có mỗi cậu con trai lại ăn tết xa nhà. Mùng 3 Tết mẹ em đem theo tất cả số bánh chưng đến thăm em và định xin lãnh đạo cho em về. Nhìn thấy lãnh đạo an hem trong đơn vị có ngừoi còn có gia đình, bố mẹ già, con nhỏ nhưng vẫn ở lại làm nhiệm vụ mẹ em mới hiểu. Những cái Tết sau này nếu em không về bố mẹ em tuy có buồn nhưng càng thuơng con và anhn em trong đơn vị hơn”. Vừa rồi Nam gọi điện báo cáo cho tôi biết năm nay cậu lại ăn Tết xa ở Hà Nội. Cũng quen rồi, giờ không phải “đả thông” cho bố mẹ hiểu nữa nhưng lại chuyển sang phải làm công tác tư tuởng cho người yêu.
“Không biết nàng có thông cảm không vì em hứa mùng Một Tết đến ra mắt bố mẹ vợ tương lai. Vậy là đành lỡ hẹn”. Tôi tin rằng, cô bạn gái của Nam sẽ hiểu và thông cảm việc của người mình yêu. Bởi nếu không sau này khi đã là vợ, người mẹ sẽ có những cái Tết khác chồng cô phải ăn tết xa nhà.
Còn rất nhiều cán bộ chiến sĩ Hải quan trên nhiều lĩnh vực công tác khác nhau không được hưởng những cái tết sum vầy sum họp cùng gia đình, ở nhiều cửa khẩu biên giới xa xôi mà chúng tôi đã đến như Bình Hiệp Long An, Chalo (Quảng Bình), Nậm Cắn (Nghệ An), Na Mèo (Thanh Hóa), Pò Peo (Cao Bằng)… nơi quanh năm có rất ít người và hàng hóa qua lại, nhưng vẫn cần phải có các lực lượng như Hải quan, Biên phòng trực làm nhiệm vụ. Tết của những người chiến sĩ hải quan nơi đây là những cái Tết xa nhà với nhiều nỗi nhớ, nhiều tình cảm ngổn ngang gửi gắm về quê nhà. Họ đã hy sinh hạnh phúc nhỏ bé của mình để góp sức hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó cho những người chiến sĩ hải quan đang ngày đêm bảo vệ, giữ vững an ninh biên giới, xứng đáng là những người lính gác của nền kinh tế đất nước.
Hà Phương – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Cuồng ẩn sĩ trên núi Thiên Nhẫn

Ông có rất nhiều tên để gọi. Ông tự gọi mình là Lạp Phong cư sĩ, là Hạnh Am cư sĩ và Cuồng ẩn sĩ. Người đời gọi ông là Lục Niên hầu (mặc dù ông không hề được phong tăng tước hầu bao giờ), là La Giang phu tử (người đàn ông bên sông LA). Hoàng Đế Quang Trung thì gọi ông là La Sơn phu tử. Có lẽ số phận ông gắn bó mật thiết với người anh hùng dân tộc áo vải cờ đào nên sử sách và con cháu đời nay biết ông với cái tên do vua gọi ấy.
La Sơn phu tử sinh năm 1723 tại xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 19 tuổi ông theo chú là Nguyễn Hành ra Hải Dương ăn học và được Hoàng giáp Nguyễn Nhiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du) kèm cặp, dạy bảo. Chú mất, ông đau buồn đi lang thang rồi nhờ thiên hạ giúp đỡ, cuối cùng cũng lần được về nhà. Rồi đậu Giải khoa Quý Hợi (1743) đời vua Lê Cảnh Hưng. Nhưng ông vẫn một mực không chịu tiếp tục thi Hội (để lấy Trạng nguyên hay Tiến sĩ). Ông nói với thầy: “Con chỉ vì không có bụng với hoàng thạch (hoạn lộ) mà thôi”. Như vậy là từ năm 21 tuổi, Nguyễn Thiếp đã nhìn rõ thời cuộc tao loạn, nhà chúa lấn át nhà vua, nông dân vùng dậy vì đói khổ, ly tán. Liệu có thể đưa tâm huyết kẻ sĩ ra mà cứu đời trong hoàn cảnh ấy không ? Nguyễn Thiếp đã chọn không. Và ông rời đương quan lộ, dấn thân vào chính cuộc sống thực của nhân dân, như ông tự nhận trong Hạnh Am ký: “Bỏ khoa cử, chuyên đọc sách và tìm tòi nơi non xanh nước biếc mà đi. Dấu chân để lại khắp đất Nam châu”. Thơ của ông: “Nghĩa còn đỉnh hoặc thơm tho – Đạo suy ẩn với giang hồ cũng thanh – Mặc ai cái bệnh đua ganh – Sông Nghi tắm mát, xuân quanh bốn mùa” (Hoàng Xuân Hãn dịch). Cái chí giang hồ, ẩn cư ấy thấm đẫm linh hồn của sông Lam núi Hồng, rèn dũa trong ông tâm thế của một lữ khách tuy không xuất, không xử như thường tình nhưng vẫn ưu thời mẫn thế. Chính vì vậy mà khi đất nước bị xâm lăng, ông mới có được cái tầm nhìn của nhà chiến lược khi hơn ba mươi năm sau, khuyên vua Quang Trung hãy thần tốc trong chiến dịch “mùa xuân đại thắng” năm Kỷ Dậu: “Nếu đánh gấp thì không quá mười ngày sẽ phá tan giặc”.
Tuy vậy, sau nhiều năm giang hồ, năm Bính Tý (1756) con người tự nhận là “Cuồng ẩn sĩ” ấy cũng vì sinh kế, vì thời thế mà ra nhận một chức quan còm: huấn đạo Anh Sơn. Sau mấy năm làm huấn đạo, rồi tri huyện Thanh Giang, sẵn đất Bùi Phong trên núi Thiên Nhẫn, năm 46 tuổi, Nguyễn Thiếp lại trở về cuộc đời ẩn sĩ. Trong Hạnh Am ký, ông mô tả trại Bùi Phong của mình: “có ghềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu. Núi trồng được cây, khe đánh được cá, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ nuôi, bệnh mười phần giảm được tám chín. Đến lúc các con lớn khôn, bảo chúng cùng lên, mới chỉnh lý lại một phen cho rồi việc. Nuôi trâu bò, trồng cây, cày ruộng, dệt vải đều làm lấy mà ăn…”. Đây là thời gian Bùi Phong cư sĩ Nguyễn Thiếp nổi tiếng xa gần. Cũng như Hội Am, một làng hẻo lánh bên sông Văn Úc đã từng trở thành một trung tâm văn hóa nhờ bóng cả Nguyễn Bỉnh Khiêm, trại Bùi Phong nổi tiếng đương thời nhờ cư sĩ Nguyễn Thiếp. Nhiều nhân vật văn hóa thư từ, đến tận nơi đàm đạo với ẩn sĩ. Năm Canh Tý (1780) chúa Trịnh Sâm lại gọi ông ra, muốn dùng ông để thêm vây cánh lấn át vua Lê. Hai người khác nhau quan điểm nên ông không được Chúa dùng. Năm 61 tuổi (1783) ông soạn thảo cuốn hồi ký Hạnh Am thi của gồm các bài văn, bài thơ viết về cuộc đời mình. Nhưng không chỉ là hồi ký. Trong tác phẩm giá trị này ông đã bày tỏ ý ông, chí ông, nỗi ưu thời mẫn thế của ông với người đương thời và hậu thế.
Thế rồi, bắt đầu sự gắn bó với vua Quang Trung. Nguyễn Huệ đã ba lần “tam cố thảo lư” mời ông ra giúp giập nhưng cả ba lần ông đều thác bệnh mà từ chối. “Nay thiên hạ khốn khổ, không cùng phu tử cứu gỡ thì không biết cùng ai….” Lần thứ ba ông miễn cưỡng xuống núi gặp vua, tuy ông vẫn cáo từ chức tước, chỉ nhận giúp nhà vua tìm đất dựng đô mới mà thôi. Cuối năm, khi 20 vạn quân Thanh còn đóng chiếm Thăng Long, vừa lên ngôi Hoàng Đế ngày 25, ngày 29 vua Quang Trung kéo quân đến Nghệ An. Nhà vua mời La Sơn phu tử đến hỏi việc nước. Ông đã nhận định thế chiến lược của việc đuổi giặc, đưa ra lời khuyên thần tốc kể trên. Nguyễn Huệ mừng, trả lời: “Phu tử nói rất hợp ý tôi”. Đánh thắng giặc trở về, giữa Nguyễn Huệ và La Sơn phu tử đã có một tình thâm giao tri kỷ giữa anh hùng với lữ khách. Nhà vua cấp bổng lộc cho ông, ép mãi ông mới nhận. Ông vào Phú Xuân dâng tấu bàn về quân đức, nhân tâm và học pháp, đại khái nói về cái đức lớn, gương mẫu của vua hiền, dân vững tâm thì nước mới yên và cuối cùng, việc học hành phải được coi trọng, phải được cải tiến. Ông chỉ ở lại mười ngày rồi về núi cũ. Vua Quang Trung đành đồng ý cho ông vừa làm sơn nhân vừa đem sở học ra giúp đỡ nhà vua.
Chỉ ba tháng sau khi vua Quang Trung mất, La Sơn phu tử trả hết bổng lộc, trở về cuộc sống nghèo túng trong trại Bùi Phong trên núi Thiên Nhẫn. Vua Quang Toàn nguy cấp triệu ông vào kinh xin ý kiến. Ông bị mắc kẹt ở đó khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân. Rồi triệu ông đến chuyện trò có ý trách về việc ông giúp Nguyễn Huệ. Nhưng cuối cùng vẫn sai người đưa ông về quê nhà, nói: “Người hiền nên kính trọng, người già nên để cho người ta yên”.
Nguyễn Thiếp mất đầu năm 1804, thọ 81 tuổi. Ông không phải nhà thơ lớn, cũng không là nhà cầm quân hay chính khách có quyền lực thật sự. Ông để lại cho đời sau một khuôn mặt không thể phai mờ về nhân cách sống, một nhân phẩm và một tấm lòng yêu nước thương dân mà không màng danh lợi, không sợ uy vũ.
Song Ân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Bảo tồn văn hóa phi vật thể – Hò Cần Thơ “những người đi tìm ngọc”

“Có trăng thì phụ lòng đèn / Ba mươi mùng một đi tìm lấy trăng”, câu ca dao sao day dứt như lời trách móc. Các cụ kể rằng ngày trước người ở xứ khác đã phải lặn lội đến tận Cái Tắc để học khúc hát ru, những điệu hò của đất Cần Thơ. Đến nay, nhiều người lại giật mình tự hỏi đâu rồi những khúc hát xưa ?
Những khúc hát xưa: “Hò…ơ…ơ…ơ… chớ Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền / Anh có thương em thì anh nên cho bạc cho tiền chớ đừng cho lúa gạo / Hò…ơ…ơ…ơ… chớ xóm giềng họ cười chê…ơ…”. Cũng điệu hò huê tình này nhiều khi họ chỉ cần thay mấy từ “Anh có thương em thì sắm chiếc vòng vàng chớ….” hoặc “….Anh có thương em thì sắm một con đò / Để anh lên xuống mua cò (tem) gởi thơ”. Câu chữ có thể phóng khoáng thay đổi cho hợp cảnh hợp thời nhưng cái tình phải rõ, phải chặt. Người con gái không cần vật chất đơn thuần (họ chẳng giãi bày xứ này ê chề lúa gạo đó sao) mà họ cần cái duyên phải sao cho cụ thể. Thế mới hay thuở trước các cụ giao duyên, nhắn gửi cho nhau mùi lắm, tình lắm, hôm nay nghe lại bao người vẫn xốn xao tâm trạng.
Các điệu hò cũng như những làn điệu dân ca xuất hiện từ thời cha ông đi khai hoang mở đất (vạn cấy, vạn chài…), là sản phẩm này sinh ra từ trái tim người lao động trong bối cảnh giữa đồng ruộng mênh mông bát ngát còn thơm tho mùi rạ đất, những đêm trăng sáng vằng vặc treo giữa miền quê hay đang lẻ loi một mình một bóng một mái chèo lênh đênh trên sông rạch rong ruổi theo dấu đèn dầu leo lét của bạn chài phía trước….Hò đã khiến họ cảm thông hơn, gắn kết nhau hơn và cũng tạo thêm sức mạnh cộng đồng trước bộn bề cuộc sống. Hò cũng như một số loại hình âm nhạc dân gian khác tuy ngôn từ câu chữ rất “bình dân” những vẫn thanh thoát uyển chuyển, thấm được tình ý chân thành, vừa gợi hình vừa giàu tính nhân cách hóa, ngồn ngộn điển tích. Và rõ ràng hò không chỉ đơn thuần là kết nối nhân duyên “bắt xác” bạn đời bạn tình, xẻ chia nhọc nhằn gian khó, chuyên chở nỗi niềm tâm tư ước vọng, cách đối nhân xử thế ở đời….mà còn ẩn chứa nghĩa tình đạo lý thật sâu đậm với thiên nhiên – mảnh đất mình đang đứng, với con người mình đang sống, với Tổ quốc và cộng đồng cùng sự quật cường tranh đấu bất khuất trước bạo tàn cường quyền.
Những người đi tìm ngọc: trên “giấy trắng mực đen” thì dự án “Bảo tồn văn hóa phi vật thể Hò Cần Thơ” mới được bộ phận bảo tồn của ngành văn hóa thể thao Cần Thơ chính thức triển khai từ ngày 01/04/1998 nhưng thực ra Cần Thơ đã có ý thức bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể này từ nhiều năm nay. Cái mốc quan trọng nhất chắc là vào năm những năm thập niên 80, dưới thời của “ba ông Giám đốc” Huỳnh Thương, Hai Ớt (đồng chí Võ Hồng Quang, nay là thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao), Ngô Hồng Khanh khi các ông mời vợ chồng Nhạc sĩ – Nhà thơ và sưu tầm dân ca Lư Nhất Vũ – Lê Giang, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hoa, nhạc sĩ Minh Luân cùng một số người am hiểu khác về Cần Thơ rồi cùng họ lặn lội “quần nát” nỗi mong mỏi của người dân nơi đây và đó chính là trách nhiệm của cơ quan chức năng địa phương trong việc tổ chức phát động nhạc sĩ mọi miền tham gia chọc lọc, phóng tác, biên soạn, dàn dựng….Sau khi dự án đã được kiểm nghiệm ngành Văn hóa Thể thao phối hợp với ngành Du lịch, Hội Hữu Nghị các nước, Sở Giáo dục – Đào tạo….tuyển chọn phổ biến đưa “Hò Cần Thơ” vào chương trình giáo dục từ cấp tiểu học; in; phát hành băng cassette, video, CD-ROM….về hò Cần Thơ làm quà biếu các đoàn khách quốc tế, Việt kiều về thăm quê; chọn những giai điệu hay đưa vào chương trình những lễ hội chính thức, các buổi chiêu đãi, các nhà hàng khách sạn, dịch vụ du lịch….Đã từng có hò Huế trên sông Hương trong tour du lịch vậy tại sao không có hò Cần Thơ trên sông Hậu ? v.v….
Vũ Thống Nhất – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Thăm lại miền Trung

Bạn tôi xa xứ lâu năm, nay trở về thăm quê, tâm sự: Về Việt Nam thích nhất là được ăn các thứ bánh gói lá của quê mình. Mùi lá chuối hấp chín, mùi nếp cộng cùng với nhân bánh và các loại gia vị thơm phức đọng lại trong ký ức của bao người. Bánh lá quê phong phú vô cùng nhưng mộc mạc, dễ nhớ, dễ làm và cũng đã từng có trong thực đơn của những bữa tiệc sang trọng. Ấn tượng nhất phải kể đến bánh tét bởi chất quê và nét cổ truyền của món bánh này. Với nguyên liệu là những thứ sẵn có của nhà nông gạo nếp thịt heo, đậu xanh, hành mỡ, lá chuối thì ở quê tôi nhà nào cũng có, nhất là mỗi dịp xuân về, con cháu đông vui. In đậm trong ký ức của những người đi xa xứ có lẽ là những kỷ niệm vui buồn bên nồi bánh tét, cùng gia đình, họ hàng, bà con và bạn bè ôn lại chuyện năm cũ, bàn chuyện năm mới. Rất nhiều cảm xúc đã được ghi lại trong các chuyện, ký, thơ để rồi làm rơi nước mắt của những kẻ xa nhà, nhớ quê. Bánh tét miền Nam cũng như bánh chưng miền Bắc không thể thiếu trên bàn thờ ông bà trong những ngày Tết. Cũng nguyên liệu như vậy nhưng bánh được gói thành 3 góc, to hơn nắm tay gọi là bánh ú. Trước đây, bánh ú được gói dùng trong ngày giỗ chạp, ngày tết nhưng nay thì bánh được bán khắp nơi, là thức ăn sáng tiện lợi, hợp vệ sinh và hợp túi tiền của nhiều người. Những ngày gian khó ở quê, khi gạo nếp khan hiếm thì nguyên liệu làm bánh ú là bột sắn tươi, nhân đậu đen cũng ngon và đậm đà không kém bánh nếp. Bột gạo xay mịn gói thành hình chữ nhật, nhân làm bằng thịt, tôm băm nhỏ gọi là bánh lá hay bánh nậm. Công ty Khách sạn Hương Giang – Huế đã giành huy chương vàng tại Hội thi các món ăn dân tộc Việt Nam do Tổng cục Du lịch tổ chức với món bánh lá chả tôm. Bột nếp nhồi kỹ, vo tròn, bọc nhân tôm hoặc thịt nạc hấp chín gọi là bánh ít lạc, còn trộn với đường đen rồi quét với lá gai gọi là bánh ít lá gai. Bánh ít Hội An là đặc sản của phố cổ, ai đến Hội An cũng mua vài chục bánh ít về làm quà. Cũng với nguyên liệu bột nếp trộn nước đường đổ lên lá chuối được gấp thành tổ to hơn tổ chim gọi là bánh tổ. Bánh tổ cũng là loại bánh không thể thiếu trong ngày Tết của người dân miền Trung. Bánh su se hay bánh phu thê là đặc sản của xứ Huế. Sở dĩ gọi là bánh phu thê và được dùng trong lễ cưới, hỏi vì bánh làm bằng bột sắn trong suốt, dính chặt vào nhau tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng gắn bó. Bánh su sê được gói bằng lá dứa, vuông vắn trong rất đẹp mắt. Ngày 5 tháng 5 âm lịc người ta thường gói bánh ú tro, miền Bắc gọi là bánh gio, nguyên liệu là gạo nếp ngâm nước tro. Bánh không có nhân, chỉ nhỏ vừa miệng ăn, được buộc thành từng chùm. Bánh ú tro thường được ăn với đường cát trắng hoặc mật ong. Bánh bột lọc nhân tôm cũng hấp dẫn và là món quà chiều của phụ nữ mọi lứa tuổi. Ở Huế hay Đà Nẵng bạn đều có thể tìm đến những quán bánh lá các loại nóng hổi sẵn sàng mời chào bạn. Ngày này khi dịch vụ lan đến mọi nhà, phụ nữ thường mua sẵn ở chợ các loại bánh lá, các thú giã nếp, nhồi bột, gói bánh và ngồi chờ nồi bánh hấp chín không còn nữa nhưng trong tâm tưởng mỗi người ký ức về một nồi bánh tét ngày Tết, niềm vui được xách giỏ bánh đi biếu ông bà trong ngày giỗ, Tết là hạnh phúc thiêng liêng của mọi trẻ thơ mà trong suốt cả cuộc đời không ai có thể quên được.
Dương Thị Thơ -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Du lịch Vĩnh Phúc khởi sắc trước thềm thế kỷ

Vừa hình thành được 3 năm bên cạnh các ngành kinh tế của tỉnh, ngành Du lịch đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế. 3 năm quả là thời gian quá ngắn ngủi cho các nhà du lịch hoạch định chiến lược phát triển. Với thế mạnh có nhiều danh thắng được thiên nhiên ưu đãi, từ lâu các khu du lịch trên địa bàn tỉnh đã nổi tiếng như khu nghỉ mát Tam Đảo, Tây Thiên, hồ Đại Lải hay các di tích lịch sử như đền thờ Hai Bà Trưng, đền Bà Chúa Liễu… Để phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái, văn hóa lịch sử, ngay từ đầu năm 1999, phòng Du lịch thuộc Sở Thương mại và Du lịch Vĩnh Phúc đã có kế hoạch khảo sát các tuor du lịch trên địa bàn tỉnh, xây dựng chương trình phát triển du lịch Vĩnh Phúc đến năm 2020. Tam Đảo cũng là 1 trong 3 điểm danh thắng được Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm đầu tư nâng cấp. Chỉ tính riêng năm 1999 Ủy ban nhân dân tỉnh đã đầu tư 2,3 tỷ đồng để nâng cấp 12,3 km đường bộ từ thị trấn Vĩnh Yên đến trung tâm khu nghỉ mát. Theo như lời ông Khổng Ngọc Hà – Trưởng phòng Du lịch tỉnh cho biết: Trước đây cơ sở hạ tầng của Tam Đảo còn nhiều hạn chế. Điện lưới, nguồn nước sạch không có và nhất là đường giao thông không đảm bảo để đưa đón du khách tới tham quan. Đến nay, bộ mặt mới của khu nghỉ mát đã được đổi thay. Các cơ sở vật chất đã tương đối đi vào hoàn thiện. Đường điện 3 pha và nguồn nước sạch đã đảm bảo nhu cầu cho 560 phòng nghỉ của 28 khách sạn hoạt động. Đã có khách sạn 2 sao đạt tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế. Tính riêng năm 1999, Tam Đảo đã đón được 2 trăm nghìn lượt khách đến nghỉ dưỡng. Do được đầu tư tốt về cơ sở hạ tầng nên lượng khách đến với Tam Đảo ngày một tăng. Tất nhiên, bên cạnh việc nâng cấp dịch vụ cho du khách, một điều có lẽ là một thế mạnh có thể thu hút khách là Tam Đảo ở trên độ cao hơn 1 nghìn mét so với mặt biển, một năm Tam Đảo có 6 tháng sương mù, chính vì vậy khí hậu ở đây luôn ôn hòa, mát mẻ. Mặc dù đang trong những ngày nóng nực của mùa hè nhưng về đến Tam Đảo lại vô cùng thú vị. Ban ngày du khách có thể đi tham quan danh thắng như khu rừng quốc gia, Thác Đá Bạc, đền thờ Bà Chúa Liễu hoặc có thể thử sức leo hơn 1 nghìn bậc đá thăm tháp truyền hình… Còn tối đến, thời tiết lại se lạnh, các nhà du lịch thường tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa như lửa trại, văn nghệ, thưởng thức các món ẩm thực của núi rừng… Để đảm bảo phục vụ du khách, một năm qua tỉnh đã chú trọng đầu tư hoàn tất các cơ sở lưu trú, nâng cấp các công trình điện nước, các khu du lịch, lượng khách đến với Vĩnh Phúc ngày một tăng. Tổng doanh thu từ du lịch quý I năm 2000 tăng 15% so với cùng kỳ năm 1999. Không dừng lại ở đó sau một năm xây dựng các kế hoạch, đến nay phòng Du lịch Vĩnh Phúc đã hoàn thiện xây dựng quy hoạch chi tiết các khu du lịch, điểm du lịch trên cơ sở quy hoạch tổng thể của tỉnh. Theo lời ông Trần Dũng giám đốc Sở Thương mại và Du lịch Vĩnh Phúc cho biết làm du lịch mà chỉ biết đến tiềm năng đó thành sản phẩm du lịch thì thật lãng phí. Thời gian tới chúng tôi tiếp tục xin đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các khu du lịch trọng điểm, và điều quan trọng là tổ chức bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho cán bộ làm công tác du lịch. Cũng thật dễ hiểu khi ngay trên địa bàn quản lý mới một tiềm năng dồi dào như vậy mà chưa biết cách để khai thác thì quả là một điều đáng tiếc. Nhưng với những bước đi vừa qua của ngành Du lịch tỉnh, tương lai Vĩnh Phúc sẽ là một điểm du lịch hấp dẫn không chỉ dành cho du khách trong nước mà còn cho du khách quốc tế.
Sỹ Hào -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Núi Voi, Hà Nam

Trên đường tới thăm danh lam thắng cảnh Chùa Hương, qua Hà Nam ở địa phận xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng bằng đường bộ hay đường thủy, du khách không khỏi bàng hoàng trước phong cảnh thơ mộng mà thiên nhiên đã ban tặng riêng cho miền quê này. Núi sông, khe suối, hồ vực, hang động quy tụ về đây tạo nên bức tranh thủy mặc, từng được người xưa ghi chép lại trong sách “Đại Nam nhất thống chí” và coi là “Bát cảnh tiên”, sánh ngang với cảnh Tiêu Tương (Trung Quốc).
Một thắng cảnh trong hệ thống “Bát cảnh tiên” đã và đang trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách muôn phương, đó là núi Voi (còn gọi là núi Tượng hay Tượng Sơn). Núi Voi cao khoảng 200m so với mặt nước biển, có dáng hình như một chú voi quỳ khổng lồ quay đầu về phía Bắc. Ngọn núi này nằm ở vị trí địa đầu tiếp giáp với tỉnh Hà Tây, cửa ngõ đi vào Chùa Hương, lại có đường giao thông thủy, bộ chạy ngang qua (sông Đáy và quốc lộ 22) nên được nhiều người ghé thăm. Vào mùa hè nóng nực, du khách sau khi nghỉ mát ở biển, thì du lịch qua miền Sơn Cước này cũng là điều thú vị bổ ích.
Từ quốc lộ 22 rẽ vào con đường rải đá răm ngoằn ngoèo để lên núi, du khách gặp ngay cảnh hùng vĩ của núi rừng trùng điệp soi mình xuống mặt nước trong xanh rộng khoảng 70 mẫu. Không gian trong những ngày đẹp trời đầy nắng và gió đượm mùi hương thơm ngát tỏa ra từ ngôi đền Tiên Ông ở lưng chừng núi. Đường lên đền rộng rãi, được xây thành bậc rợp bóng những cây tùng.
Khi leo hết 108 bậc thang xây bằng gạch và đá, ngôi đền hiện ra trầm mặc trong khói hương, âm thanh chuông đến vang vọng giữa đất trời. Từ đây du khách có thể phóng tầm mắt hướng về phía Đông Bắc, ngắm dải núi đất Đọi Sơn hoặc chiêm ngưỡng con đường 22 chạy ngang như một dải lụa trắng vắt ngang những xóm làng bình yên giữa đồng lúa chín vàng. Đền từng được mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhất từ” được xây dựng vào đời vua Trần Nhân Tông (1279 – 1923), thờ đức thánh Tiên Ông húy là Nguyễn Mãn Nguyện, cha vốn là người họ Nguyễn quê ở Từ Sơn (Bắc Ninh), được phong tướng quốc Công ở triều nhà Trần. Đền Tiên Ông rất linh thiêng bởi truyền thuyết địa phương có nói Bảng nhãn Lê Quí Đôn và Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (người Hậu Lê) đều là con cầu tự ở đền này, cho đến nay vẫn được nhân dân địa phương cúng tế. Hàng năm, vào dịp mở lễ hội (15 tháng 6 âm lịch), dân thập phương về đây lễ bái cầu nguyện trước cửa đền rất đông. Công trình kiến trúc đền Tiên Ông gồm có 3 tòa: tiền đường, cung đệ nhị và Hậu cung. Tòa tiền đường được thiết kế chồng diêm 8 mái với những góc đao cong vút, mềm mại, trang trí đề tài phượng chầu càng tô đậm thêm vẻ cổ kính của ngôi đền. Trong đền có nhiều câu đối, đại tự ca ngợi công đức của thánh Tiên Ông cùng nhiều đồ thờ có giá trị văn hóa….
Đi sâu vào trong núi, du khách còn bị bất ngờ trước vẻ đẹp độc đáo, lạ thường của thiên nhiên. Ở bình độ cao chừng 40 đến 50 m, giữa 3 bề là núi, tạo thế như một chiếc ngai quay hướng Đông Nam, phía dưới là một hồ nước khá rộng nổi lên những hòn núi nhỏ như một Hạ Long trên cạn. Tại đây ngày trước còn có một ngôi chùa trăm gian, trăm phật như tòa lâu đài mọc giữa núi rừng, đó là chùa Tam Giáo, nơi tu hành đắc đạo của thánh Tiên Ông. Ngày nay, chùa không còn được như xưa bởi chiến tranh và sự bào mòn của thời gian. Vào mùa nước, suối thành thác tung bọt trắng xóa tuôn xuống mặt hồ. Nước suối mùa đông ấm, mùa hè lại mát rượi. Du khách sau khi thăm cảnh và lễ phật được tắm nước suối nơi đây chắc sẽ như cảm thấy mình thắm đượm sự tinh túy của đất trời và hương hoa núi rừng.
Chưa hết, du khách có thể lên chơi ở hang Dơi, nghe Dơi vỗ cánh tựa như khúc nhạc thiên nhiên rất vui tai….rồi vào hàng Xi xuyên qua ngang núi để ngắm nhìn thỏa thích từng đàn cá nheo, cá chép bơi lội dưới làn nước trong xanh.
Chiều về, du khách được nghỉ bên hồ nước dưới chân núi Voi (còn gọi là vực chùa Ông). Từng làn gió nồm nam thổi tới, mặt hồ gợn sóng làm cho du khách thảnh thơi và giữ mãi trong lòng những kỷ niệm sâu sắc về một vùng quê miền Sơn Cước này.
Núi Voi thực sự gợi mở cho du lịch sinh thái và du lịch văn hóa của Hà Nam phát triển mà vẫn bảo tồn được nét đặc thù của quê hương.
Trương Minh Tuấn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999