Hang Sửng Sốt và đầu gỗ một hành trình hướng tới tương lai

Hang Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn được hình thành cách đây khoảng 2 đến 4 triệu năm, thực sự là một bảo tàng địa chất ngoài trời, mà đực trưng là loại hình Karst nhiệt đới tạo ra những dáng núi đặc sắc, vùng Vịnh quanh co đẹp tuyệt vời. Cửa hàng nằm ở độ cao là 25 mét so với mặt nước biển, từ mép nước bước theo các bậc xây đá hình chữ chi mới lên tới cửa hang. Hang Sửng Sốt thuộc dạng hang thắt, mở có nhịp điệu, cửa hang hẹp đi xuống, cửa hang đi lên rất động hình lưỡi trai với diện tích rộng là 10.020 mét vuông, dài hơn 200 mét, chỗ rộng nhất hơn 80 mét, đỉnh cao nhất xấp xỉ là 20 mét, Hang chia 2 ngăn: ngăn 1, đáy thấp hơn cửa hang là 5 mét, chỗ cao là 18 mét, dài là 50 mét, chỗ rộng nhất là 10 mét, không có ánh sáng tự nhiên. Ngăn thứ hai 180 mét, chỗ rộng nhất là 80 mét. Đây có phong cảnh kỳ thú tạo bởi các nhũ đá, măng đá, với nhiều ngăn nhỏ mang sắc thái khác nhau, chính giữa là một đại sảnh, có ánh sáng tự nhiên hắt trên cao tạo một ấn tượng kỳ vĩ. Hang Sửng Sốt mở về phía Đông đảo nơi có vịnh Sửng Sốt tuyệt vời. Trần hang có vẻ đẹp như một sân khấu và quyến rũ bởi những bức rèm đá mềm mại, buông rũ lấp lánh như dát bạc và những gõ ngách quanh co huyền bí. Ngăn 1 thông với ngăn 2 bằng một khe cửa nhỏ chỉ vừa một người qua với vẻ đẹp tương phản đối lập trong một chỉnh thể thống nhất giữa phần đèn màu huyền ảo đã tạo một cảm giác như ta đang đi giữa lòng biển khơi với những con sóng bạc đầu đang ào ạt sôi động – Du khách sẽ đi từ ngạc nhiên này tới bàng hoàng khác trên con đường gập ghềnh thăm thẳm bất ngờ ta gặp một vườn thượng uyển ở giữa là hồ nước nhỏ, bốn mùa nước trong vắt. Động Sửng Sốt gắn liền với truyền thuyết người Anh Hùng Thánh Gióng đã tới đây đánh đuổi yêu quái, hiện còn dấu vết liên quan đến trận chiến đó: những hồ nhỏ là dấu chân ngựa gióng và ở ngay lối ra có ngựa cùng thanh gươm hóa đá của Thánh Gióng bỏ lại trước khi bây lên trời. Hang này đã được người Pháp biết đến từ đầu thế kỷ 20, cuối năm 1996 hang được giao về Ban Quản lý Vịnh Hạ Long. Từ hang Sửng Sốt có thể tạo thành tuyến tham quan du lihcj tắm biển thuận tiện giữa Mê Cung – Ti Tốp – Bồ Nâu hoặc giữa hang Luồn – Bồ Nâu – Trinh Nữ – Ti Tốp. Trong tương lai gần, khi đảo Soi Sim hình thành loại hình du lịch leo núi tắm biển kết hợp với du lịch hang động hang Sửng Sốt sẽ là trung tâm du lịch của Vịnh, nơi hội tụ đủ các hình thức du lịch biển. Đó là điểm tham quan kỳ thú mới trên địa chỉ cũ. Hang Đầu Gỗ nối liền động Thiên Cung giữa biển khơi: là hang được hình thành cách đây 1 triệu năm, cửa hang nằm ở độ cao là 21 mét so với biển, từ mép nước phải qua 97 bậc xây gạch là loại hang mở, cửa hang rộng hình ngũ giáp chiều cao là 12 mét, rộng 17 mét. Hang chia 3 ngăn, ngăn ngoài rộng 37 mét, cao 30 mét như một sân khấu lộng lẫy hài hòa giữa hội họa và điêu khắc. Ngăn giữa rộng là 25 mét, dài 40 mét với măng và nhũ đá phong phú là hoàng cung của động với các kỳ quan, là bức tranh chạm trổ tinh tế, đặc sắc kỳ lạ. Ngăn 3 thắt nhỏ dần rộng 7 đến 13 mét có giếng quanh năm có nước ngọt được mệnh danh là Hạ long đệ nhất động, hay động của các kỳ quan bởi vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm với ao thần, giếng Tiên, rốn rồng. Đầu Gỗ mang trong mình vẻ đẹp kín đáo, đặc sắc là một công trình nghệ thuật hoành tráng, khỏe khoắn vừa cổ tích, vừa hiện đại. Nó gắn liền với truyền thuyết về thời kỳ chống giặc ngoại xâm của ông cha thời nhà Trần thế kỷ 13. Năm 1919, vua Khải Định, vua thứ 12 Triều Nguyễn cùng toàn quyền Đông Dương Pháp Pol Dume đến thăm và dân Quảng Yên đã đặt bia đá và khắc sự kiện trên. Đó là tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn thời Nguyễn. Tháng 10 năm 1957 Bác Hồ đến thăm hang và nói: “Ai cũng phải vào thăm hang mới thấy hết được cảnh đẹp. Cảnh đẹp một người không thể nói hết cho nhiều người”. Cuối năm 1997, hang Đầu Gỗ được nối với động Thiên Cung thành cụm du lịch hấp dẫn. Chỉ tính từ mùng 1 tháng 5 đến hết tháng 10 năm 1998 đã có hơn 300 nghìn lượt khách tới thăm khu vực này. Mùa hè này, hang Sửng Sốt sẽ khai trương vào ngày 1 tháng 5 năm 1999, hang Đầu Gỗ sẽ mở cửa ngày 19 tháng 5 năm nay.
Thái Thanh -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (16(69))1999.

Du lịch những trang văn qua

Sương mờ trôi, sương mờ trôi
Em đi hư ảo một trời Sa Pa
Chênh vênh phiên chợ Bắc Hà
Khăn piêu, yếm đỏ để mà chia phôi!
Thế rồi thôi, thế rồi thôi
Em về dốc vắng tôi lui phố phường
Tôi gác hẹp, trưa góc đường
Quen nhau một buổi nhớ thương được vào
Lạ lùng sao, lạ lùng soa
Đời tôi có một cành đào trong sương… Năm 1990.
Lời bình của Trịnh Thanh Sơn
Nhà thơ dẫn ta đến một không gian hư ảo. Toàn cảnh Sa Pa là sương, là hư ảo, là nhòe, mờ như bức tranh thủy mặc, lại như những bức ảnh tả sương của nhà nhiếp ảnh tài ba Võ An Ninh, ở đó ta chỉ thấy thấp thoáng bóng em lẫn trong màn sương mờ trôi:
Sương mờ trôi, sương mờ trôi
Em đi hư ảo một trời Sa Pa
Trong trung cảnh, ta nhận ra một phiên chợ Bắc Hà mà đặc trưng rõ nhất là sự chênh vênh. Cái tác nhân đã làm cho tâm hồn nhà thơ trở nên chênh vênh, đó chính là những khăn piêu, yếm đỏ!. Vậy ra, những em hư ảo ở câu thơ trên, tới đây đã hiện rõ ra mồn một, những cô gái đặc sắc và riêng biệt, không trộn lẫn bởi những tín hiệu muôn đời “khăn piêu và yếm đỏ”. Tuy nhiên, ngay ở đây lại xảy ra một tình huống bất ngờ. Khăn piêu, yếm đỏ hiện ra ngỡ sẽ mang lại gì, hóa ra chỉ để mà chia phôi! Cả nhà thơ, cả người độc bỗng cùng sững sờ. Thì ra, người thơ ở đây chỉ là một du khách, một du khách mà thời gian quá hạn hẹp, những gì người thơ gặp chỉ vừa đủ làm một cái cớ để chia phôi mà thôi! Câu thơ thoảng một nét buồn, giống như một tiếng thở dài nhè nhẹ. Cái điệp ngữ “Thế rồi thôi, thế rồi thôi” làm cho sự chia ly ở câu thơ sau trở nên tha thiết đến tuyệt vọng: “Em về dốc vắng tôi lui phố phường!”. Cái phố phường mà nhà thơ lui về ấy nào có quyến rũ gì, đó thực sự chỉ là một nơi ẩn náu chẳng mấy dễ dàng, chẳng mấy tiện nghi, đến nỗi “tối gác hẹp, trưa góc đường” đấy thôi. Có thể là ở đây, nhà thơ cố tình nói quá lên một chút, nhưng động cơ của sự than thở ấy thì lại rất đáng yêu, rất đáng nể, bởi đó là cái cớ để mà nhớ thương! Nhưng nhớ thương ai mới được chứ? Quen nhau một buổi nhớ thương được nào? Biết là không thể nhớ thương thì lại hóa ra một lời tự thú. Hai câu thơ kết, bài thơ chuyển hẳn sang một cung bậc khác của tình cảm. Thì ra, những hình ảnh ảo mờ, những nhớ thương vu vơ kia là có thật, là hiện hữu, không chỉ một ngày, một tháng, một năm mà là cả một đời! Lạ lùng sao, lạ lùng sao. Đời tôi có một cành đào trong sương… Chỉ một ngày sương Sa pa, chỉ một phiên chợ Bắc Hà, chỉ một lần gặp em với khăn piêu, yếm đỏ mà cả đời bỗng có một cành đào Sa Pa trong sương… thì lãi thật! Cái ngỡ là thua thiệt, là chẳng được gì, là vu vơ ấy bỗng làm cho tâm hồn nhà thơ trở nên giàu có biết bao nhiêu. Xuân năm 1999.
PV – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(67))1999.

Phó nháy nghiệp sư

Với mong muốn trang Du lịch học đường thực sự là diễn đàn, nơi gặp gỡ của các bạn học sinh, sinh viên những du khách nghèo ham mê du lịch, từ số báo 15 báo Tuần Du lịch mở chuyên mục ham mê du lịch, từ số báo 15, báo Tuần Du lịch mở chuyên mục “Phó nháy nghiệp dư” nhằm tạo điều kiện cho các nhà nhiếp ảnh nghiệp dư giới thiệu những tác phẩm của mình. Những tác phẩm đăng ở chuyên mục này có thể là ảnh kỷ niệm những chuyến đi, những hoạt động trong một cuộc dã ngoại, ngoại khóa, picnic, vui chơi giải trí ngoài trời… Tất nhiên, chuyên mục sẽ ưu tiên đăng những ảnh đẹp, những kỷ niệm một thời học đường, nhưng đồng thời cũng khuyến khích những tác phẩm phê phán nhẹ nhàng (về một hành vi thiếu văn hóa, một hoạt động du lịch còn chưa hợp với văn minh học đường…). Các ảnh đăng ở chuyên mục này, yêu cầu phải ghi rõ nơi chụp, địa chỉ cụ thể và tên tác giả. Các ảnh đăng tất nhiên sẽ được miễn phí và thậm chí còn được trả nhuận ảnh cao. Mỗi tháng, báo Tuần Du lịch sẽ chọn 1 ảnh xuất sắc nhất (hoặc biểu dương, hoặc phê phán, hoặc thành công về nghệ thuật…) để tặng thưởng. Rất mong chuyên mục “Phó nháy nghiệp dư” nhận được sự công tác của đông đảo các bạn học sinh, sinh viên cả nước.
Ngày hội giao lưu thư ký tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Nằm trong khuôn khổ cuộc thi “Người thư ký giỏi Thành phố Hồ Chí Minh do trường quản lý tin học Hoa sen và hội liên hiệp phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 24 tháng 4 nhằm tuyển chọn người thư ký giỏi của thành phố tạo cơ hội thi đua về nghiệp vụ đồng thời làm nổi bật vai trò của người thư ký trong các doanh nghiệp và tiếp tục thông tin cho xã hội về một nghề mới đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, được phép của Sở văn hóa Thông tin tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 25 tháng 4 năm 1999 giữa những người đoạt giải cao trong cuộc thi, Ban giám khảo cuộc thi thư ký giỏi Thành phố Hồ Chí Minh với những người làm công tác thư ký trong các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là dịp giúp cho các thư ký của hai địa phương gặp gỡ, trao đổi nghiệp vụ, kinh nghiệm trong công việc thường ngày của người thư ký.
Tuần Du lịch – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(67))1999.

Sự tận tụy của một giám đốc khách sạn liên doanh với sự nghiệp phát triển du lịch Việt Nam

Những ai đã đến và biết về Furam resort Đà Nẵng đều không thể nhắc đến ông Paul Stoll tổng giám đốc khách sạn nghỉ mát ven biển lớn nhất Việt Nam này. Tọa lạc trên bãi biển Bắc Mỹ An, một trong những bãi tắm lý tưởng của Đà Nẵng Furam resort là liên doanh giữa tập đoàn khách sạn Furama Hồng Kông với công ty du lịch dịch vụ thành phố Đà Nẵng, tổng số vốn đầu tư lên đến 40 triệu đô la Mỹ. Nơi đây trước kia vốn là nhà nghỉ của cán bộ với các hàng quán tạm bợ phục vụ cho khách nội địa, bây giờ ai đến đây đều không khỏi ngỡ ngàng vì cảnh đẹp thiên nhiên được con người tạo nên, chen lẫn giữa dãy nhà 2 tầng kiến trúc theo lối Á Đông là những bể bơi, đài phun nước, hang nhân tạo và những rặng dừa, cau xanh ngát. Khách sạn đưa vào hoạt động tháng 4 năm 1997 là thời điểm du lịch Việt Nam đang trong thời kỳ khó khăn, đường bay quốc tế đến Đà Nẵng chưa có, thủ tục hải quan và hàng trăm rắc rối khác làm cho khách quốc tế đến Việt Nam thưa dần. Thời kỳ đầu tuy giá khuyến mại nhưng công suất buồng rất thấp. Trước tình thế ấy ông Paul Stoll quốc tịch Đức, được tập đoàn Furam thuê quản lý đã có sáng kiến liên kết giữa các khách sạn cao sao: New World, Mazetic Sài Gòn, Daewoo Hà Nội, Plaza Hạ Long và các khách sạn 4 đến 5 sao khác thành tập đoàn chuỗi khách sạn cao sao để hợp tác, quảng cáo tuyên truyền cho du lịch Việt Nam, năm rồi ông được bầu là chủ tịch Hiệp hội đó. Với cương vị được giao, Ông đi như con thoi từ Bắc vào Nam, từ Việt Nam đi các nước xúc tiến cho việc quảng bá, tuyên truyền, vận động để các hãng hàng không mở tuyến bay Hồng Kông – Đà Nẵng và tháng 10 nă 1999 này là Băng Cốc – Đà Nẵng. Ông và tập đoàn chuỗi khách sạn là cầu nối giữa hàng không và du lịch nhờ vào việc Furama chịu một phần lỗ cho những chuyến bay đầu tiên. Ông đề xuất chương trình Việt Nam điểm đến thiên niên kỷ mới và thuyết phục Tổng cục Du lịch đưa vào chương trình hành động quốc gia Du lịch và tổ chức các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000. Mới đây ông là người tích cực giúp Tổng cục du lịch tham gia Hội chợ du lịch quốc tế ITB – 1999 tổ chức tại Berlin – Đức – quê hương ông. Gặp ông sau khi tham gia hội chợ trở về ông khoe “Ông đã cùng với ông Phạm Từ – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch tổ chức họp báo giới thiệu về thành tựu du lịch Việt Nam qua chương trình Việt Nam điểm đến thiên niên kỷ mới”. Ông đem cho tôi một tập tài liệu về hoạt động của đoàn Việt Nam tại hội chợ Berlin và ông nói say sưa về triển vọng lượng khách vào Việt Nam sẽ tăng trong năm tới. Là tổng giám đốc điều hành ông luôn bận rộn nhưng mỗi khi có lãnh đạo ngành du lịch, các đoàn khách của các tỉnh bạn đến thăm, ông đều giành thời gian đưa đi giới thiệu, truyền đạt những kinh nghiệm quản lý, những chương trình có thể hợp tác cho phát triển du lịch Việt Nam. Tôi chưa thấy ai trong ngành lại say mê hứng thú về du lịch và vẽ lên viễn cảnh tốt đẹp về du lịch Việt Nam như ông. Ai đó còn hoài nghi về sự phát triển du lịch Việt Nam hãy đến gặp ông, ông nói: “Không lạc quan tin tưởng làm sao có thể vượt qua khó khăn được”. Với ngành du lịch thành phố ông sẵ sàng giúp đỡ đào tạo cán bộ. Ông hay nói training, training. Training là con đường tốt nhất để nâng cao chất lượng phục vụ. Nếu so sánh giữa mức lương của đội ngũ giám đốc của ta với lương của ông thì vô cùng khập khiễng, nhưng đề cập đến cái tâm với nghề, nhiệt huyết với sự nghiệp phát triển triển du lịch thì đáng để ta trân trọng. Mong sao trong đội ngũ của chúng ta có nhiều người như ông để du lịch Việt Nam sớm cất cánh.
Dương Thị Thơ – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Vỏ trứng gà trở nên vô giá

Vỏ trứng gà vốn được coi là loại rác thải rất khó tái sinh trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Một số doanh nghiệp ở Hòa Kỳ thậm chí hàng năm phải chi tới 100 nghìn đô la Mỹ để xử lý vỏ trứng. Riêng tại nước này lượng vỏ trứng thải ra hàng năm lên tới 120 nghìn tấn. Mới đây giáo sư người Mỹ J. MacNeil – Đại học Penn đã thành công trong việc tách lớp màng này có chất Kollagen. Sau khi đã tách bóc lớp vỏ màng thì có thể nghiền vỏ trứng thành canxi làm chất bổ sung cho thức ăn gia súc, kem đánh răng hoặc thậm chí ở một số loại nước giải khát như nước cam. Gía trị loại vỏ trứng này là 100 đô la một tấn. Nhưng chất Kollagen lấy từ lớp màng còn quý giá hơn nhiều. Trong ngành y tế giá một gam kollagen là 1 nghìn đô la Mỹ. Kolagen được dùng trong việc cấy ghép da người.
Thái Lan: Tình hình bạo lực ở Indonesia và bệnh viêm não Nhật Bản tại Malaysia đã khiến lượng khách du lịch nước ngoài đến Thái Lan tăng mạnh. Phần lớn du khách đã hủy bỏ những chuyến du lịch tới Indonesia, Malaysia và chuyển sang thăm Thái Lan.
Brazil: Năm 1999 này, Brazil đặt mục tiêu thu nhập 19 tỷ đô la Mỹ từ ngành du lịch và tạo thêm 42 nghìn việc làm mới. Để đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế chủ chốt, trong 4 năm tới Brazil sẽ đầu tư 2,8 tỷ đô la Mỹ cho việc đẩy mạnh du lịch.
Châu Á: Ngày 29 tháng 3, một nhóm các nhà tư vấn về Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đã công bố một nghiên cứu do nhóm này tiến hành cho thấy ngành du lịch sẽ tạo ra hơn 120 triệu việc làm mới trên thế giới trong thập kỷ tới. Trong đó có 70% là ở châu Á khoảng 5 triệu việc làm.
Nhật Bản: Để bảo vệ môi trường sinh thái, các công ty du lịch của Nhật Bản đã thành lập tour du lịch miễn phí kéo dài 1 ngày. Các du khách trong khi đi tham quan có thể kết hợp nhặt rác trong rừng để dọn vệ sinh cho các khu du lịch. Hoạt động này có lợi cho cả hai bên khu du lịch đảm bảo được vệ sinh môi trường còn khách thì chỉ cần tốn sức trong một tiếng đồng hồ là có thể đi du lịch miễn phí, tắm suối nước nóng và ăn một bữa cơm trưa đàng hoàng.
Thu Trang – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Kỳ II: Bác sĩ và thầy giáo của cò – Phần 3

Phải trân trọng giữ gìn. Tôi để nghị không thanh lý hay đấu thầu hòn đảo, mở rộng thêm và trồng cây mới. Kêu gọi ở xã xong thầy lên huyện, lên tỉnh và cả trung ương. Thầy đưa về địa phương một tổ quay phim quay cảnh cò vạc giao ca chiếu lại cho nhân dân xem cùng với những đoạn phim về thiên nhiên ở các nơi khác. Thầy đề ra phương án biến nơi đây thành khu du lịch. Thế là một bộ phận hút bùn được mời về bồi đắp mở rộng hòn đảo. Chung quanh đảo được cạp bờ bằng liếp tre và trồng cây. Trên đất cũ, cây cối, chủ yếu là tre gai, bạch đàn và nhiều cây hoang dại khác khá rậm rạp, trông như rừng, có thể đủ cản gió giữ ấm cho cò. Nhớ lại những ngày đầu trước khi có văn bản lập khu du lịch, cây cối thưa thớt, mỗi khi gió mùa đông bắc tràn về, cò vạc phải đậu xuống mặt đất để tránh gió. Những ngày này độ rậm rạp của cây khiến vạc đã chấp nhận làm tổ và đẻ trứng. Nhiều thế hệ vạc con ra đời ở Chi Lăng Nam. Hy vọng đảo còn được mở rộng, cây cối bổ sung, các loài cò cũng sẽ làm tổ và đẻ trứng, Chi Lăng Nam sẽ không chỉ là Đảo Cò hay Làng Cò nữa mà là Sân Chim như ở Minh Hải nước ta và nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, để chúng làm tổ, đẻ trứng thì cần có thức ăn tại chỗ, Thầy Khang xòe hai bàn tay phân trần nghĩa là đồng ruộng Chi Lăng Nam và các xã chung quanh phải cung cấp đầy đủ tôm, tép, cá, giun, dế, ngóe, nhái… để cò đủ nuôi sống đàn con rất háu ăn của chúng. Muốn vậy, huyện Thanh Miện, mà trước hết là Chi Lăng Nam và các xã chung quanh phải thực hiện nghiêm túc chương trình dùng các thuốc diệt sâu, diệt cỏ an toàn, nghĩa là trừ sâu, nhưng không làm chết tôm, tép, cua, cá… ở vùng đất ngập nước cực kỳ đa dạng sinh học này.
Thầy Khang nói thêm: Cho đến giờ nhiều người cứ vẫn nghĩ là phải đầu tư để rời mấy hộ gần Đảo Cò ra ngoài cho rộng địa bàn cò đậu. Xét về mặt sinh thái và tập tính học của cò vạc thì thấy cầm tập cho dân ở đây sống chung với cò vạc mới là lâu dài. Nghĩa là mở rộng khái niệm Đảo Cò thành Lang Cò. Để đạt được yêu cầu trên cần có cơ chế khuyến khích dân ven đảo, ven hồ trồng tre luồng, tre gai, tre hóa, tre lòng ngọc…. Vườn nhà ai cò vạc đến đâu có thể có quyền thu lệ phí khách du lịch vào xem, vừa được chia phần trong tổng thu nhập chung của xã do dịch vụ đó mang lại, vì chính họ đã góp phần làm cho cảnh quan thêm phong phú đa dạng. Từ năm 1994 đến nay cuộc sống thanh bình đã đến với hai loài chim này. Trước đây hễ mái chèo cham nước là chúng bay tung lên. Bây giờ thuyền lượn quanh đảo phải vỗ tay chúng mới chịu bay lên để khách chụp ảnh. Nhiều đêm cò về đông chúng đã phải sang cả vườn của mấy hộ ven đảo để đậu. Ai đã đến làng Cò Chi Lăng Nam, dù chỉ thoáng qua, khó quên hình ảnh cò vạc giao ca, tạo thành ba bốn tầng trắng xóa, nhấp nháy trên vòm trời cao lồng lộng. Và tiếng kêu gọi bầy gọi bạn của chúng tạo thành âm hưởng theo bạn suốt chặng đường dài.
Tô Đức Chiêu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Quyết định mới của Thủ tướng chính phủ

Từ ngày 1 tháng 7 năm 1999, Thực hiện cơ chế một giá
Ngày 26 tháng 3 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành quyết định về một số biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp đầu tư nước ngoài với nhiều điều khoản theo hướng tạo thuận lợi nhiều hơn cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Theo đó, từ ngày 1 tháng 7 năm 1999, sẽ áp dụng giá thống nhất giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước ở một số giá dịch vụ như cung cấp nước sạch, lắp đặt điện thoại, cước điện thoại nội hạt, tham quan các di tích và công trình văn hóa. Giá bán điện cho sản xuất giờ bình thường, cấp điện áp từ 6 kv đến 20 kv là 7,5 cent/kwh, giá cước thuê bao điện thoại là 10 đô la Mỹ cho một máy trong một tháng, giá cước viễn thông quốc tế sẽ được giảm bình quân là 10%. Cũng từ ngày 1 tháng 7 năm 1999 sẽ được thực hiện việc dùng tiền đồng Việt Nam để quy định giá dịch vụ, phí và lệ phí đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được quy định và trả bằng tiền đồng Việt Nam. Không áp dụng chế độ trích nộp kinh phí công đoàn từ quỹ lương. Về quyền sử dụng đất, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp và khu chế xuất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn hợp đồng ký với doanh nghiệp và khu chế xuất. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được thuê đất với mức giá thấp nhất và được miễn giảm tối đa các loại thuế để đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân hoặc xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp.
Tặng thưởng 10 tác giả viết về “nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả lao động doanh nghiệp”
Hội nhà báo Việt Nam và phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam đã tổ chức cuộc thi “Nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả lao động doanh nghiệp” trong thời gian 1 năm từ ngày 21 tháng 6 năm 1998 đến ngày 21 tháng 6 năm 1999. Kết thúc giai đoạn I, chiều ngày 31 tháng 3, tại số 9, phố Đào Duy Anh – Hà Nội, lễ trao tặng phẩm đã được tổ chức cho 10 tác giả gồm các nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, ở các tỉnh Hà Nội, Thái Nguyên, Đà Nẵng. Giai đoạn II sẽ kết thúc vào ngày 21 tháng 6 năm 1999. Hưởng ứng cuộc thi này đã có hơn 100 tác giả gửi bài về tham gia.
H.V. – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Kỳ II: Bác sĩ và thầy giáo của cò – Phần 2

Cái cổ vươn cao. Cái đầu ngất ngưởng. Cái mỏ vàng xám rõ dài. Cò vừa đi vừa mổ rất chuẩn xác từng con ruồi đang đậu hay bay ngang qua. Thầy giáo Số reo lên: Mời các chú ra xem. Nhờ nó mà nhà sạch ruồi. Họa mới có một hai con. Cò là loài tạp thực. Nó ăn tôm tép, sâu bọ, cào cào, châu chấu trên đồng. Ăn cả chuột nhắt. Thời buổi này người ta hay bón phân hóa học. Anh chuột nào xơi phải phân hóa học biến thành mồi của cò, cò cũng dễ bị ốm. Cò đỗ trên cây không vững nữa và rơi xuống đất. Các bác trong ban quản lý khu du lịch mang vào cho tôi. Tôi cứu chữa. Tùy theo sự cảm nhận xét đoán mà cho cò uống thuốc gì. Khi thì kháng sinh. Khi thuốc đi ngoài. Có khi cả thuốc khớp. Chữa khỏi tôi lại mang trả ban quản lý để ban quản lý đưa nó về đời đàn. Một năm vừa qua tôi chữa được bảy con trong tình trạng ốm yếu như thế trở thành khỏe mạnh.
Thế còn con này?
Nó chẳng những ốm mà còn bị xã một cách. Tôi nhận nó từ ban quản lý khu du lịch. Tôi thuốc thang và bắt tôm tép về cho cò ăn. Nó khỏi mấy tháng nay rồi nhưng chẳng chịu đi đâu cứ như thành viên trong gia đình. Nó tha thẩn quanh sân quanh vườn cùng với người. Nó bắt ruồi tiêu không hết thì tích thật đầy diều, đầy cổ lò dò đến một xó nhả ra, rồi quay vào nhà bắt tiếp. Nó là chiến sĩ vệ sinh của gia đình tôi đó!. Dường như có hiểu ý chủ. Chú ta vênh vênh cái mò, rồi đĩnh đạc đi tới góc sân, cong cần cổ, ợ một cái, một cục ruồi chết được đẩy ra. Cò lại thản nhiên quay vào mổ tiếp. Nó không hề tỏ ra lo sợ người. Có lẽ trong thâm tâm đã coi người là bạn. Sự bình yên của nó làm cho con người càng thêm thanh thản.
Ríu rít tiếng chim
Rời Chi Lăng Nam tôi tìm gặp thầy giáo Nguyễn Văn Khang và em học sinh Nguyễn Thị Quế người làng An Dương mà hôm nay đã là cô gái Hải Quế. Hải Quế dạy học ở Chí Linh tôi chưa có điều kiện gặp bèn đến thăm thấy Nguyễn Văn Khang đang làm việc và sinh sống ở Hải Dương. May quá! Thầy Khang có nhà. Đó là một người đàn ông xấp xỉ sáu mươi. Thầy Khang tiếp tôi trong phòng xép quá đơn sơ của mình. Bộ bàn ghế tầm tầm, ấm chén, phích nước, cái gì cũng cũ. Duy có những giá sách kín chung quanh tường làm tôi vui thích. Và quý trọng hơn là niềm đam mê của thầy khi nói chuyện, chỉ những ai hiểu biết và đắm say đối với đối tượng nghiên cứu của mình mới có thể cởi mở và diễn đạt nhiệt thành đến như vậy. Tôi là giáo viên sinh vật, Thầy Khang kể lại câu chuyện về gặp đàn cò ở làng An Dương ngày nào. Nhà giáo khi được chứng kiến tận mắt đàn cò vạc giao ca và reo lên. Đây là tài sản vô giá. Thưa các cụ, các ông, các bà. Thầy Khang mới đảng ủy xã và đại biểu nhân dân tới nói chuyện. Tài sản vô giá này thiên nhiên mời đất ban cho chúng ta.
Tô Đức Chiêu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Kỳ II: Bác sĩ và thầy giáo của cò – Phần 1

Làng cò châu thổ sông Hồng
Một trong những công dân của làng cò có thành tích chăm sóc cò là thầy giáo Nguyễn Đức Số. Nhân dân yêu mến gọi là bác sĩ cò, còn một nhà khoa học về môi trường của Úc đến thăm gọi nhà thầy là bệnh viện chim (The bird hospital). Thầy số là hiệu trưởng trường Chi Lăng Nam nay đã nghỉ hưu nhà gần bên hồ An Dương. Thày yêu chim từ nhỏ. Nhà thầy ba đời nuôi chim. Từ ngày có chủ trương bảo tồn thiên nhiên ở địa phương thầy chú trọng tới nuôi cò và bảo vệ cò. Lượm quanh đảo mấy vòng và chụp ảnh, chúng tôi tới thăm nhà thầy. Rất may là thầy có nhà cùng mấy người khách đang ngồi chơi. Đầu hè một lồng nhỏ có đôi chim gáy đang mải miết gù nhau. Câu chuyện của chúng tôi được bắt đầu từ những con chim đó.
Thầy chơi chim gáy?
Vâng, Tôi nuôi. Và đánh bẫy. Từ nhỏ tôi đã theo cha bẫy và nuôi chim gáy. Vừa rồi đa buồn quá vì con chim gáy sống với tôi trên ba mươi năm bị chết. Nó già quá mà chết. Tôi mang nó từ Lào Cai về giữa những năm 1960. Bất cứ lúc nào tôi sai bảo là nó gáy vang. Gáy theo ý muốn của chủ. Có người trả 800 nghìn đồng tôi không bán. Nó là một kho vàng quý giá chứ không phải là chim nữa. Ấy vậy mà nó lỡ bỏ tôi ra đi! Ông già im lặng. Dương như đang ngậm ngùi suy nghĩ về chặng đường đưa chim từ Lao Cai về và những năm tháng chim sống với mình. Rồi ông nói thêm, vẫn về con chim vàng chim bạc ấy: Nó biết gáy gọi Cúc cù cu… cu! Như ta thường nghe. Biết gáy gù, gáy gù chẩy, gáy tít, gáy dồn, gáy bổ , gáy líu, gáy rong sao…
Chúng tôi kêu lên. Trời ơi! Lại có nhiều cách gáy đến vậy kia ư? Chứ còn sao nữa. Một con chim mồi phải biết gáy nhiều kiểu. Khi chúng tôi chọn vùng chung chim hay về, đặt lưới, cắm chim mồi đất giả cách ăn và nhẩy, treo chim mồi không trên cây. Ra hiệu cho chim cất tiếng gáy gọi, hay gáy gù, gáy líu, gáy mơ… là tùy theo cảm nhận của mình thế nào cho phù hợp. Chim sẻ xà xuống ăn. Bẫy chụp! Rồi làm thịt. Không. Giờ đây người ta không ăn thịt chim gáy. Nuôi làm cảnh. Nuôi cho đời thêm vui. Lẽ nào trong cuộc sống lại không được nghe tiếng chim ca. Nhiều khi bắt được cả chim non tôi đem về nuôi và tập cho gáy. Thường là bán mỗi con năm mươi ngàn đồng không kề lồng. Vừa rồi tôi bán cho một ông người Vàng Xá sống ở Hà Nội một con chim quý 300 nghìn đồng. Đó là giá hữu nghị. Chim Vàng bạc kia mà! Bác có vẻ say nghề? Từ bé tôi đã yêu nghề. Mẹ tôi nói ngày xưa cha tôi tháng ba đến và tháng tám về ăn cơm nhà. Đó là mùa chim gáy. Người xách cái lồng và cái lưới đi rong. Nửa tháng hay hai mươi ngày mới lại đáo qua nhà. Từ những ngày ấy tôi đã lon ton chạy theo cha. Chuyện đang vui thì một vị trong đoàn tham quan kêu lên: Ồ, con cò! Tất cả nhìn ra sân. Còn cò từ bếp đi lên. Hai chân cao thư thái ung dung đặt từng bước một.
Tô Đức Chiêu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Vì sao các dự án phát triển du lịch ở Lâm Đồng chậm phát triển?

Ngoài dự án Đankia – Suối vàng có số vốn đầu tư lớn hơn 700 triệu đô la Mỹ, tính đến cuối năm 1998, Lâm Đồng đã có 6 dự án được duyệt là dự án Hồ Than Thở do Công ty du Trách nhiệm hữu hạn Thùy Dương là chủ đầu tư với số vốn là 47 tỷ đồng, thời gian hoạt động là 45 năm, dự án khu du lịch Thác Pren giai đoạn 1 đầu tư 28 tỷ đồng do Công ty du lịch Lâm Đồng làm chủ đầu tư, dự án khu du lịch Rừng Hoa do công ty cổ phần bất động sản Togi làm chủ đầu tư với số vốn là 24 tỷ đồng. Dự án Trại Thú Tuyền Lâm là 2,5 tỷ đồng, dự án khu dã ngoại Đá Tiên là 4 tỷ đồng do công ty dã ngoại Phương Nam đầu tư. Dự án khu du lịch thác Pongour ở Đức Trọng do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đất Nam có số vốn đầu tư là 11, 5 tỷ đồng. Song, theo ông Phan Sĩ Quảng, Trưởng phòng phát triển Du lịch – Sở du lịch tỉnh Lâm Đồng thì hầu hết các dự án đã được duyệt đều triển khai chậm vì chưa duyệt được thiết kế. Trong nhiều nguyên nhân thì nguyên nhân cơ bản theo ông Phan Sĩ Quảng là do các chủ dự án chưa nhận được đất. Tìm hiểu vấn đề này chúng tôi được biết: hầu hết các dự án được duyệt đều có số vốn đầu tư lớn qui mô diện tích rộng vì các hạng mục đầu tư xây dựng chưa nhiều theo mô hình du lịch sinh thái. Những trung tâm vui chơi giải trí cho du khách đòi hỏi xây dựng theo qui hoạch. Những dự án này đều có diện tích từ hàng chục đến hàng trăm héc ta đất, bao bọc bên trong nó có nhiều khu vực đất sản xuất trồng rau quả của dân, nhiều khu vực trước đây tư nhân tự lấn chiếm để mở rộng hàng quán, nhà nghỉ… là những thách thức lớn cho việc giải tỏa, đề bù, giao đất cho các chủ đầu tư. Đem vấn đề này trao đổi với ông giám đốc Sở Địa Chính Lâm Đồng, ông cho biết: “Chúng tôi chỉ là cơ quan tham mưu cho tỉnh về mặt thủ tục. Việc giải tỏa, đền bù đã có một ban riêng. Song theo tôi, nếu dự ấn nào cũng đòi giải tỏa dân đi, xây dựng khu tái định cư mới thì lấy đâu ra đất. Vì đất dự trữ, nhà là ở Đà Lạt làm gì còn”. Việc giải tỏa lều quán, nhà cửa của dân trong các khu du lịch như Hồ Than Thở, khu du lịch Rừng Hoa…. Không phải bây giờ mới bàn đến mà đã được đặt ra từ lâu. Song việc giải quyết nó không dứt điểm, kéo dài. Vì vậy việc giao đất cho các chủ dự án vẫn chưa được thực hiện. Nên chăng phải tìm một giải pháp trong điều kiện có thể. Người dân Đà Lạt đã biết xây dựng nhà nghỉ, khách sạn để đón khách trong mùa du lịch? Thế nào không để họ tham gia vào các khu du lịch như một thành viên, khách du lịch đến Lâm Đồng – Đà Lạt đâu chỉ để ngắm nhìn hoa, leo núi, đi thuyền chụp ảnh rồi đi ngủ – nghỉ trong khách sạn. Được đi dạo lên những đồi thông, được ngắm những cánh đồng rau mơn mởn qua khung cửa sổ mỗi sáng thức dậy là một niềm khoan khoái của du khách. Bạn hãy thử làm xem ? Buổi sáng, từ khách sạn Gol 1 hay Gol 3 nhìn xuống đồng rau của phường 2, từng mảng màu xanh của rau, màu đất đỏ bazan, những người trồng rau trông bé tí giữa cánh đồng, những ngọn nước phun ra trắng xóa để tưới rau… tạo nên một khung cảnh thật thanh bình, dễ chịu so với phía bên kia là những con đường với xe cộ ầm ào. Tôi nghĩ, du lịch Đà Lạt sẽ ra sao, nếu một khi không còn những cánh đồng rau mà ai đó đã từng ví như những ô cửa màu xanh của thành phố. Nên chăng các khu du lịch khi quy hoạch xây dựng chỉ giải tỏa ở những khu vực thực sự cần thiết, phần còn lại có thể bố trí khu dân cư, khu đất sản xuất, xây dựng các khu nhà vườn với đặc trưng kiến trúc Đà Lạt, trồng các vườn cây ăn quả đặc sản phục vụ khách du lịch, xây dựng các trại nuôi chim – thú, cá cảnh, trồng hoa phong lan… dân có thể tham gia vào các dự án, như trồng và bảo vệ rừng…. Làm sao mỗi ngôi nhà, mỗi khu vườn, mỗi cây trái của dân trong khu vực cũng trở thành một sản phẩm du lịch như kiến trúc nhà vườn ở Huế, hay những vườn cây ăn quả ở Lái Thiêu… thì lúc đó, việc tham gia làm du lịch của người dân sẽ được phát huy, mà du khách sẽ được thêm phần hấp dẫn. Tuy nhiên, theo ông Đặng Ngọc Lưu – giám đốc Sở du lịch Lâm Đồng thì: “Sở cũng đã tính đến điều này. Song để thay đổi chỗ ở, tập quán canh tác của người dân trong vùng dự án… không thể chỉ riêng ngành Du lịch mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ đồng bộ từ phía các ngành chức năng”.
Nguyễn Vân Thiêng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.