Đà Nẵng thành lập đội cứu sinh trên các bãi tắm biển

Thành phố Đà Nẵng có gần 30 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp, hấp dẫn như Mỹ Khê, Bắc Mỹ An, Non Nước, Xuân Thiểu… Hằng ngày, đặc biệt là các ngày lễ, ngày nghỉ lượng khách đến vui chơi, tắm biển tại các bãi tắm trên khá đông đúc. Do đó, những tai nạn rủi ro do tắm biển là khó tránh khỏi. Trong những năm qua, Ủy ban nhân dân các phường đã đứng ra tổ chức các đội cứu sinh và được Sở du lịch hỗ trợ một phần kinh phí để mua sắm các phương tiện cứu sinh thô sơ và đã cứu được nhiều người khỏi chết đuối. Tuy nhiên do không có kinh phí hoạt động và lực lượng quá ít nên lực lượng này không được duy trì thường xuyên. Bước vào mùa du lịch biển năm nay, để hạn chế thấp nhất các trường hợp tai nạn xảy ra do tắm biển và thường trực, ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã có thông báo số 931/UB – VP ngày 10 tháng 5 năm 1999 yêu cầu giám đốc sở du lịch và Trưởng ban Tổ chức chính quyền thành phố phối hợp thành lập Đội cứu sinh tại các bãi biển. Đội cứu sinh là đơn vị sự nghiệp thuộc sở du lịch và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước như cán bộ công nhân viên. Ủy ban nhân dân thành phố cũng sẽ trang bị các phương tiện kỹ thuật cần thiết cho đội hoạt động nhằm sẵn sàng cứu nguy khi khách tắm biển gặp nạn.
Phố nháy có ảnh đẹp nhất tháng qua
Trong tháng 5 năm 1999, Báo Tuần du lịch đã giới thiệu ảnh của các phó nháy. Nguyễn Xuân Anh, Nguyễn Như Nam, Dương Thanh Hảo trên các số báo 19, 20, 21, 22. Theo lệ làng, Ban biên tập báo đã chọn và quyết định trao giải cho các tác giả Dương Thanh Hảo (Lớp K40A – Khoa du lịch, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn) với tác phẩm “Nhóm sinh viên khoa Du lịch trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, với di tích xưa đăng trên số báo 22.
Nhắn tin: Nhiều bạn đọc góp ý ảnh của các Phó nháy nghiệp dư chụp kiểu nhìn thẳng ống kính hơi nhiều nên rất dễ bị cũ, mòn và đơn điệu. Tuần du lịch mong nhận được các tác phẩm mới với những phong cách thể hiện mới của các phố nháy gần xa.
Du lịch không phải trả tiền
Hai người bạn nói với nhau: Tôi luôn ao ước được đi cho biết đó biết đây với người ta, nhưng…. Mà này, đi du lịch ra Hà Nội thì tốn bao nhiêu?
Không tốn kém gì đâu! Sao lại không tốn kém!!! Ao ước thì có tốn xu nào!.
Đàm Văn Thanh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (23(75))1999.

Duy trì tốt trật tự trị an ở Phủ tây hồ

Phủ Tây hồ là di tích lịch sử nổi tiếng của Thủ đô. Ở đây có đền thờ Bà Chúa Liễu Hạnh được dân gian tôn làm thánh Mẫu bởi tài hoa đức độ. Do giá trị lịch sử của di tích và không gian kiến trúc hòa đồng với vẻ đẹp thơ mộng của Tây Hồ, nên ngày ngày luôn có khách hành hương đến dâng lễ và vãn cảnh. Nhất là dịp tháng Giêng hàng năm, lượng du khách đến làm lễ đầu xuân tăng lệ với số lượng lớn. Theo ông Trương Công Đức, Trưởng ban quản lý di tích Phủ Tây Hồ cho biết, ngay từ đêm giao thừa, lối vào Phủ tắc nghẽn do có quá đông người đến lễ, xin lộc Thánh. Có những ngày như mồng 3, mồng 8 tháng giêng vừa qua, khoảng hơn 10 nghìn lượt người đến hành lễ. Do tập trung lượng người lớn trong không gian nhỏ hẹp, nên nhiều năm trước đây luôn xảy ra tình trạng mất trật tự trị an, Ban quản lý không sao kiểm soát nổi. Từ 2 năm nay được sự hỗ trợ tích cực của ủy ban nhân dân phường Quảng An và quận Tây Hồ, Ban quản lý đã cải tiến việc sắp xếp phục vụ tổ chức cho nhân dân đến hành lễ an toàn và trật tự hơn. Riêng trong khuôn viên Phủ Tây Hồ, hàng ngày có lực lượng Ban quản lý và bảo vệ dân phố gồm 14 người cùng tổ kiểm soát quân sự hỗ trợ giải đều ở các điểm để duy trì trật tự vệ sinh, hướng dẫn mọi người cắm hương đúng quy định, ngăn ngừa kẻ xấu lợi dụng trộm cắp… Hàng ngày trưởng ban quản lý Trương Công Đức và phó ban Đàm Viết Vinh luôn có mặt theo dõi, kịp thời nhắc nhở những hành vi vi phạm. Từ dịp tết canh thìn đến nay, dù lượng người luôn quá tải, nhưng không xảy ra vụ trộm cắp móc túi nào. Lực lượng bảo vệ đã theo dõi và bắt 2 đối tượng có hành vi hạ lễ trộm, giao cơ quan công an xử lý, trả lại 1 máy điện thoại di động của khách đánh rơi… Phía bên ngoài lối vào phủ, lực lượng liên ngành gồm công an, giao thông công chính, bảo vệ dân phố thường xuyên tuần tra giữ gìn trật tự, duy trì nề nếp gọn gàng, văn minh tại hơn 30 nhà hàng ăn uống, hơn 100 quán bán đồ lễ và gần 20 điểm viết sớ. Nơi trông giữ xe được tăng cường lực lượng, thu phí đúng giá quy định bằng vé sử dụng một lần. Vừa qua quản lý đã thực hiện trùng tu tôn tạo tổng thể Phủ Tây Hồ trong thời gian 4 tháng, với kinh phí hơn 1 tỷ đồng. Do đó, không gian thoáng rộng và ngăn nắp sạch sẽ hơn. Khu sắp lễ được bố trí lại hợp lý, thuận tiện, du khách không phải chờ đợi lâu. Việc duy trì tốt trật tự, trị an tại Phủ Tây Hồ đã được đông đảo khách hành hương của Thủ đô và các địa phương hoan nghênh, đánh giá cao.
Hỏa Tiễn-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (16(120))1999.

Phát triển du lịch sang phía Tây là một hướng đầu tư đúng và có hiệu quả

LTS: Lễ hội Quán Thế m Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng năm 2000 là sự kiện du lịch lớn của đất nước nằm trong Chương trình hành động quốc gia về du lịch. Lễ hội là dịp để quận Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng quảng bá du lịch của mình với du khách trong và ngoài nước, kích thích cho du lịch phát triển. Nhân dịp này phóng viên báo Du lịch có cuộc phỏng vấn với đồng chí Nguyễn Đăng Hùng Chủ tịch quận Ngũ Hành Sơn – trưởng ban tổ chức lễ hội, sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:
Phóng viên: Thưa đồng chí, lễ hội Quán Thế m năm nay có gì mới só với những lần tổ chức trước đây?
Đồng Chí Nguyễn Đăng Hùng: Điều khẳng định là Lễ hội Quán Thế m năm nay có nhiều nét mới so với những lần tổ chức trước. Đây là lần đầu tiên lễ hội tổ chức mang tầm quốc gia, ý nghĩa, quy mô lễ hội lớn, do đó công tác tuyên truyền quảng bá, chuẩn bị cơ sở vật chất, con người, kịch bản cho Lễ hội… cũng được triển khai khẩn trương, chu đáo hơn.
Phóng viên: Quận Ngũ Hành Sơn và ngành du lịch đã chuẩn bị như thế nào cho lễ hội này?
Đồng Chí Nguyễn Đăng Hùng: Được chọn là một trong 15 lễ hội lớn của quốc gia, đó là một vinh dự lớn đối với chúng tôi. Tuy nhiên, đây cũng là trách nhiệm nặng nề. Được sự giúp đỡ rất lớn từ Tổng cục Du lịch, trung tâm Công nghệ thông tin Du lịch tại miền Trung, Sở du lịch thành phố chúng tôi đã có phương án tổ chức, kịch bản chương trình lễ hội. Tổng cục Du lịch hỗ trợ cho quận 200 triệu đồng quận trích ngân sách là 100 triệu đồng. Ban đại diện Phật giáo quận và chùa Quán Thế m huy động được 80 triệu đồng. Ngoài ra, có sự đóng góp của các tổ chức xã hội, nhân dân trong quận và khách thập phương cho lễ hội này. Quận xem đây là một công tác lớn của địa phương trong năm 2000.
Phóng viên: Trước đây, thường có ý kiến cho rằng Lễ hội Quán Thế m còn nặng phần lễ mà xem nhẹ phần hội, điều đó liệu có xảy ra trong lần này không?
Đồng Chí Nguyễn Đăng Hùng: Lễ hội Quán Thế m có hai phần lễ và hội. Chúng tôi trân trọng những giá trị văn hóa, tín ngưỡng của phần lễ vì suy cho cùng, văn hóa Phật giáo cũng là một phần của văn hóa dân tộc mà thôi. Vì vậy, lễ hội năm nay sẽ đảm bảo phần Lễ thật tôn nghiêm, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của đồng bào Phật tử và du khách gần xa. Đồng thời, phần hội cũng được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, hấp dẫn, thu hút sự tham gia của hàng nghìn lượt người vào các tiết mục như: “Sân khấu hóa truyền thuyết Ngũ hành sơn, hội rước đuốc, rước cộ, hoa đăng, thi văn hóa ẩm thực, các hoạt động thể thao truyền thống trên sông, văn nghệ mừng lễ hội, hát tuồng, dạo thuyền rồng trên sông Cổ Cò, đưa thuyền…”. Tin rằng với những hoạt động phong phú như vật. Lễ và hội sẽ được diễn ra hài hòa, hấp dẫn khách thập phương.
Phóng viên: Tiềm năng du lịch của Ngũ Hành Sơn theo nhìn nhận chung là chưa được khai thác hết. Dự án mở rộng không gian du lịch sang phía tây liệu có được thực thi để du lịch Ngũ Hành Sơn phát triển trong tương lai?
Đồng Chí Nguyễn Đăng Hùng: Đúng là danh thắng Ngũ Hành Sơn chưa được khai thác hết tiềm năng để phát triển du lịch. Điều ấy có nhiều nguyên nhân. Nhưng theo tôi, nguyên nhân rất quan trọng là không gian du lịch của Ngũ Hành Sơn còn bị hẹp. Lâu nay chỉ tập trung khai thác thu Đông với ngọn Thủy Sơn là chính. Trong khi khu Tây với Kim Sơn, Hỏa Sơn phong cảnh hữu tình hơn nhiều. Tại đây có núi Ghềnh, sông Cổ Cò, có bến ngự của vua Minh Mạng mỗi lần thăm Ngũ Hành Sơn, có chùa Phố Đà nơi em gái của vua Minh Mạng ẩn tu, có một thân mẫu tướng Trần Quang Diệu và nhiều di tích lịch sử gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân Hòa Hải anh hùng. Có động Huyền Vi huyền ảo, đặc biệt là động Quân m, một hang động tuyệt vời với tượng Quán Thế m cao khoảng 1,8 mét do thạch nhũ tạo ra. Tượng đứng trên lưng một con rồng đang giỡn sóng. Xa xa là chim Khổng Tước…. không gian khu vực chùa Quan Thế m thật thoáng đãng với dòng sông Cổ Cò hồ sen thơm ngát in bóng núi bóng chùa. Trong năm qua, chúng tôi đã đầu tư 600 triệu đồng làm đường nhựa vào Kim Sơn, Hỏa Sơn, đưa điện vào núi, động. Năm 2000 sẽ tiếp tục mở một số đường nội bộ, xây dựng bãi đổ xe, đưa điện trang trí vào các hang động để khai thác, tham quan du lịch…. Sau năm 2000, sẽ khai thác du lịch trên sông Cổ Cò và mở dần sang ngọn Thổ Sơn. Phát triển du lịch sang phía Tây là một hướng đầu tư hoàn toàn đúng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Phóng viên: Cảm ơn đồng chí, chúc du lịch Ngũ Hành sơn phát triển trong tương lai.
Vân Thiêng-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (20(124))1999.

Cuộc thi cửa sổ du học qua internet

Công ty tư vấn tin học Quốc Anh, Trung tâm tin học FPT internet, phối hợp cùng một đại sứ quán, các trường đại học có liên quan tổ chức cuộc thi tìm hiểu du học qua mạng internet mang tên “Cửa sổ du học”. Cuộc thi được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 10 tháng 2 năm 2000 đến ngày 29 tháng 2 năm 2000 và sẽ công bố kết quả trao giải vào giữa tháng 3 năm 2000. Đối tượng dự thi là tất cả những người sử dụng internet bằng cách truy cập vào địa chỉ w.w.w. FPT. Vn/Chuongtrinhduhoc để gửi các câu trả lời tới ban Tổ chức. Cuộc thi có tất cả 7 giải thưởng, trong đó có 2 giải thưởng lớn trị giá là 3 nghìn đô la Mỹ, bằng một chuyến du học tiếng Anh miễn phí trong vòng 5 tuần tại Úc hoặc New Zealand. Còn lại là 5 giải khuyến khích gồm những bộ tài liệu, bằng, đĩa các chương trình học tiếng Anh trị giá là 30 đô la Mỹ. Bên cạnh đó còn có sự tài trợ đặc biệt của Vietnam Airlines với việc ủng hộ vé máy bay đi, về cho 2 thí sinh đoạt giải đặc biệt.
Đại hộ võ thuật Việt Nam trên đất Pháp
Trong hai ngày 19 và 20 tháng 2 năm 2000, tại ngoại ô Paris, Đại hội võ thuật Việt Nam trên đất Pháp được khai mạc nhằm giới thiệu các trường phái kỹ thuật của các võ đường khác nhau nằm trong Tổng đoàn võ thuật Việt Nam tại Pháp và Châu u. Theo võ sư Phan Toàn Châu, đệ lục đẳng thì trong đại hội sẽ có buổi huấn luyện cho các món sinh các môn võ như côn, đoản côn, kiếm, trường côn, roi nhị khúc… do các võ sư cao niên, huấn luyện viên đặc sắc nhất ở nước pháp và các nước châu u tới hướng dẫn. Trong ngày 20 tháng 2 có buổi biểu diễn võ thuật do các võ sư cao niên trình diễn, chương trình biểu diễn miễn phí, vào cửa tự do. Cũng theo võ sư Phan Toàn Châu hiện ở Pháp có hai phái võ chính là Vivonam và phái võ Cổ truyền Việt Nam thu hút khoảng 12 đến 15 nghìn người thường xuyên luyện tập. Võ Việt Nam có uy tín và vị trí cao ở Pháp, cũng như các nước châu u khác.
Khoa chống độc bệnh viện bạch mai cấp cứu 9 ca ngộ độc thuốc trong dịp tết
Khoa chống độc bệnh viện Bạch Mai được Bộ y tế quyết định thành lập ngày 15 tháng 12 năm 1998, với đội ngũ 4 bác sĩ, 12 y tá, 2 hộ lý do phó giáo sư, phó tiến sĩ Nguyễn Thị Dụ làm trưởng khoa. Chỉ trong khoảng 10 ngày dịp Tết Nguyên Đán năm 2000, khoa chống độc Bệnh viện Bạch Mai đã cấp cứu và chữa trị cho 9 trường hợp bệnh nhân bị ngộ độc thuốc. Trong số đó có 3 bệnh nhân nghiện ma túy sử dụng thuốc độc liều cao, 6 bệnh nhân khác, hầu hết ở tuổi 18 đến 30 tuổi, đã uống thuốc sâu, thuốc ngủ với liều lượng lớn, gây hôn mê, nguy cơ tử vong cao. Đến nay các bệnh nhân đã phục hồi sức khỏe.
CL-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(199))1999.

Lê Quý Đôn người lữ hành rong ruỗi trên những trang sách

Nói chung xưa nay có hai phép đọc sách. Có người mê mải đọc mà quên cả chuyện đời thường, khư khư cái quan niệm mọi sự đều tầm thường, “duy hữu độc thư cao”, chỉ có đọc sách là cao quý, suốt một đời chỉ được tiếng là đọc nhiều mà không đưa lại cho đời công nghiệp gì đáng kể. Người ta gọi là những con mọt sách, ngốn nhiều dâu mà không nhả được tơ. Trái lại có loại người đọc sách nhiều và kỹ không kém loại trên. Nhưng sách đối với hộ chỉ là những bài học của trường đời, họ thâu tóm vạn quyển nghìn trang trong mấy tấc bụng, như con tằm mê mải ăn dâu để nhả cho đời những nén tơ quý giá. Lê Quý Đôn là một người như vậy. Ông thực sự là một lữ khách suốt đời làm cuộc hành trình giữa các trang sách để cuối cùng trở thành nhà bác học lớn nhất của dân tộc trong thời đại của ông. Quế Đường Lê Quý Đôn sinh ngày 5 tháng 7 năm bính ngọ, vào ngày 2 tháng 8 năm 1726 tại thôn Phú Hiếu, huyện Hưng Hà, Thái Bình ngày nay, con trai của Tiến Sĩ Lê Phú Thứ, từng làm đến Hình bộ thượng thư, được phong tước hầu. Ông bắt đầu cuộc lữ hành vào các trang sách từ những ngày thơ ấu. Năm tuổi, tâm hồn cậu bé Danh Phương tức Lê Quý Đôn sau này, đã mở ra trước những trang thơ đầy phong vị nhân bản và ngây thơ, trong trắng của Kinh Thi. Có lẽ đây là những trang sách đầu tiên dẫn Lê Qúy Đôn bước vào thế giới của kiến thức và nghệ thuật người xưa. Ông đã thuộc lòng một số bài và sau này, từ 14 tuổi, khi được theo cha về Thăng Long theo học những bậc túc nho nổi tiếng đương thời, ông hầu như không thể rời sách ra được nữa. Ông đọc, suy ngẫm, nhớ và còn tranh biện với những bộ sách đồ sộ của kẻ sĩ thời đó như Tứ Thư, Ngũ Kinh, và Bách gia chư tử.. Người đương thời cho rằng, cho đến năm 18 tuổi, Lê Quý Đôn đã đọc hết kho sách kim cổ không chỉ có mặt trong thư viện gia đình ông mà còn của thiên hạ thời đó. Mười tám tuổi, ông đậu giải Nguyên. Không ra làm quan, ông lui về quê dạy học để có điều kiện đọc thêm sách và sách đối với ông hầu như không bao giờ là đủ. Ông vừa đọc vừa trước tác. Kết quả trong ba năm về ở ẩn ông đã hoàn thành xong tập Lê triều thông sử gồm ba mươi tập dày dặn. Hai mươi bảy tuổi, ông đỗ Hội nguyên. Sau đó thi Đình Nguyên, ông đậu Bảng Nhơn. Vì nhà vua năm đó không lấy Trạng Nguyên cho nên Lê Quý Đôn nổi danh là người “hay chữ” nhất. Ông được vời ra làm quan. Cuộc đời hoan lộ bắt đầu.Với nhiều người khác, đó là thời kỳ vinh thân phi gia, đục khoét dân lành cho bõ công đèn sách. Nhưng Lê Quý Đôn chỉ giữ chức Thị thư ở Viện Hàn Lâm. Không có tài liệu nào nói ông tự nguyện nhận chức này hay chỉ được nhà vua ban cho có thể. Nhưng người đương thời và đời sau đều tin rằng, chính ông đã chọn chức quan khiêm tốn ấy để có thể tung hoành trong các kho sách và tư liệu của cung vua, phủ chúa. Hai năm sau, ông nhận chức Toàn tu quốc sử, bởi vì chắc chắn triều đình đã nhìn thấy cái tinh hoa phát tiết ra ngoài của thiên tài Lê Quý Đôn. Đến đây, chính ông cũng thấy rằng dù có đọc hết tất cả sách được viết ra trên thế gian này cũng chưa đủ mà phải đi vào cuộc đời thực. Ông xin đi làm phóng sứ Sơn Nam. Sau đó làm chức bình phiên trong Phủ chúa. Cuối cùng, năm 1757, ông được bổ chức Hàn Lâm thị giảng. Chính trong năm này ông hoàn thành xong hai bộ sách tiêu biểu cho cuộc hành trình mười mấy năm của mình qua các trang sách cổ kim. Đó là bộ Thánh mô hiền phạm lục và Quần thư khảo biện, hai cuốn sách khảo cứu, ghi chép những gì ông thu nhận được và tự suy ngẫm, chiêm nghiệm qua việc đọc các bộ sách đồ sộ của nền văn minh Trung Hoa. Trong bài tựa cho Quần như khảo biện, tiến sĩ Tân Triều Vu đời Thanh đã ca ngợi ông: “Ông đã làm được việc rong ruổi hàng nghìn năm, đã biết học hỏi người xưa để bồi bổ cho thời nay”. Ông làm phó sứ đi Trung Hoa, kết giao với nhiều bạn bè nổi tiếng ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản, mở mang thêm tầm nhìn về thế giới đương thời. Lê Quý Đôn còn để lại cho chúng ta nhiều bộ sách nổi tiếng và giá trị như Toàn Việt thư lục, Văn Đài loại ngữ. Những tác phẩm này đã đưa ông lên vị trí là nhà bác học lớn nhất của thời đại ông, làm hậu thế thán phục và ca ngợi. Lê Quý Đôn chì là một lữ khách rong ruổi trên đường thiên lý của các trang sách. Nhưng chính nhờ cuộc hành trình kiên định, vất vả đến suốt đời ấy mà ông xứng đáng được xếp vào vị trí một trong những nhà bác học lớn nhất thời đại mình.
Song n -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (22(74))1999.

Tù Oan, ai phải trả giá?

Gần đây việc điều tra, truy tố và xét xử oan sai cho người vô tội đã xảy ra ở một số địa phương gây nên sự bất bình trong dư luận xã hội. Có những vụ việc oan sai đã để lại hậu quả nặng nề cho công dân. Đơn cử trường hợp của vợ chồng Nguyễn Văn Được và Ủng Phóng Lìn tức Ngô Phương Liên trú tại phường Vĩnh Trại, thị xã Lạng Sơn (tỉnh Lạng Sơn) bị cơ quan điều tra công an tỉnh Bắc Giang, Viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang điều tra, truy tố và xét xử về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân. Nguyễn Văn Được bị phạt 5 năm tù, Ủng Phóng Lìn bị phạt 7 năm tù (bản án hình sự sơ thẩm số 100 ngày 28 tháng 6 năm 1997). Sau đó, ngày 25 tháng 3 năm 1998 Tòa phúc phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội đã tuyên phạt Nguyễn Văn Được 20 tháng 22 ngày tù, Ủng Phóng Lìn 4 năm tù và xác nhận Nguyễn Văn Được đã chấp hành xong hình phạt. Còn Ủng Phóng Lìn sau khi xét xử phúc thẩm phải thi hành án tại trại giam hơn 20 ngày mới được Viện kiểm soát nhân dân trả tự do để chờ xét xử theo chủ tục giám đốc thẩm. Quyết định giám đốc thẩm số 96 ngày 29 tháng 8 năm 1998 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên bố Nguyễn Văn Được và Ủng Phóng Lìn vô tội và đình chỉ vụ án hình sự. Thế nhưng cho đến nay việc bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần cho đôi vợ chồng này vẫn không được cơ quan có trách nhiệm nào đền bù. Và việc xử lý những cán bộ bắt giám oan uổng hai vợ chồng cũng chưa thấy thông báo. Hoặc vụ Bùi Thị Lý ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An bị tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên phạt 17 năm tù về tội “lừa đào chiếm đoạt tài sản công dân” và 8 năm tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”. Bùi Thị Lý ngồi tù 692 ngày thì được tha để chờ xét xử giám đốc thẩm. Tại quyết định giám đốc thẩm số 133 ngày 19 tháng 12 năm 1998, Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên bố Bùi Thị Lý không phạm tội… Chưa hết, chị Lưu Thị Nhạn ở Phú Yên bị tù oan 140 ngày, chị Nguyễn Thị Bích Ngọc ở Quy Nhơn – tỉnh Bình Định bị công an tỉnh Hà Tĩnh giam oan 10 tháng, suốt 3 năm nay liên tục khiếu nại đòi bồi thường theo quy định của pháp luật. Gần đây thôi, anh Bùi Minh Hải trú tại xã Long Tân, huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai đã bị cơ quan điều tra công an, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai điều tra, truy tố và xét xử về tội giết người, cướp tài sản công dân và hiếp dâm. Tai họa ập xuống đầu anh Hải là sự hiện diện của chiếc đồng hồ Seiko của anh đánh rơi gần hiện trường chị Trần Thị Thanh Dung bị giết chết vào tối ngày 24 tháng 1 năm 1998. Và ngày 25 tháng 1 năm 1998 anh Hải bị bất khẩn cấp vì cơ quan điều tra cho rằng chính anh là thủ phạm của vụ án đặc biệt nghiêm trọng này. Từ những sai lầm do suy diễn và bức cung của cơ quan điều tra đã kéo theo hàng loạt những sai lầm sau đó của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, chụp cho anh Hải cái mũ thật kinh khủng: giết người, cướp của và hiếp dâm với mức án tù chung thân. Nhưng vận may ngẫu nhiên đã đến với anh Hải do công an Đồng Nai bắt được Nguyễn Văn Tèo, y đã khai nhận giết chị Dung và gây nhiều vụ án khác nữa. Anh Hải được xác định là ngoại phạm và ngày 3 tháng 3 năm 1999 được trả tự do sau 398 ngày đêm bị cầm tù oan ức. Nếu không bắt được Nguyễn Văn Tèo và Tèo không khai nhận tôi thì công dân lương thiện Bùi Minh Hải sẽ chôn vùi cả quãng đời còn lại trong bốn bức từng nhà giam hay sao?. Điều dư luận quan tâm là việc bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người bị tù oan. Và việc xử lý những cá nhân đã bắt người dân vô tội tù oan chưa được quan tâm. Trước hết là việc bồi thường thiệt hại cho người bị tù oan được quy định rất rõ và cụ thể tại điều 72 Hiến pháp, điều 624 Bộ luật dân sự và nghị định 47/CP ngày 3 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ. Thế nhưng việc chủ động bồi thường khắc phục hậu quả của các cơ quan tiến hành tố tụng cho người vô tội do mình gây ra chưa kịp thời, triệt để dẫn đến những người bị tù oan lại tiếp tục khiếu kiện nhưng việc bồi thường vẫn bị rơi vào sự im lặng đáng sợ. Còn những người đã làm oan công dân vô tội thì việc xử lý vi phạm cũng gặp nhiều khó khăn, nếu có xử lý thì cũng chỉ “giơ cao, đánh khẽ” cho qua chuyện. Từ việc xử lý thiếu kiên quyết của các cơ quan chức năng dẫn đến những cán bộ và các bộ phận có liên quan “coi thường” sinh mạng của công dân. Tất cả những tai họa, thiệt thòi đều đổ lên đầu những người khốn khổ, còn việc bồi thường và xử lý người gây nên oan trái trong thực tế xem ra còn rất xa vời. Sau khi người vô tội được trả tự do, “được” xin lỗi, bồi thường sơ sơ thì coi như … “hòa cả làng”. Để hạn chế và ngăn chặn việc oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự, để bảo đảm sự công bằng và bình đẳng của công dân trước pháp luật, các cơ quan có trách nhiệm cần khẩn trương rà soát lại những vụ việc oai sai để bồi thường về vật chất, tinh thần xứng đáng cho người vô tội, xử lý nghiêm những cán bộ có liên quan, có như vậy mới hạn chế và ngăn chặn được tình trạng vi phạm pháp luật nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự.
Nguyễn Thanh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (22(74))1999

Ngày khai trường mùa biển khiếp, cái gì cũng đắt

Từ năm 1998, tỉnh Quảng Ninh có sáng kiến lấy hai ngày 30 tháng 4 và ngày 1 tháng 5, làm ngày hội du lịch Hạ Long hàng năm. Năm 1998, ngày hội du lịch Hạ Long, được đánh dấu bằng việc đưa bến tàu du lịch và động Thiên cung vào hoạt động. Ngày hội du lịch năm 1999 với nội dung mới là đưa thêm hang Sửng Sốt vừa được tôn tạo vào phục vụ du khách. Rút kinh nghiệm của năm trước, năm nay Ban tổ chức hộ du lịch của tỉnh đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng từ nội dung hoạt động đến việc tổ chức hộ chợ, tổ chức đón khách và tổ chức các tụ điểm vui chơi, phương án giữ gìn an ninh, trật tự… Công ty Liên doanh quốc tế Hoàng gia khẩn trương xây dựng, đưa nhiều điểm vui chơi vào phục vụ như vườn thú đảo Rều, khu công viên với nhiều hoạt động vui chơi phong phú. Giá vé vào cổng giảm 1 phần 3 so với ngày thường. Thế nhưng, không phải cái gì cũng hạ giá. Trước hết là giá lưu trú.Vợ chồng một nhà nghỉ tư nhân ở khu du lịch Vườn Đào hí hửng khoe: “Nhà nghỉ của chúng em có 15 phòng, đông nghẹt khách, ngày thường, giá một phòng hai giường, 80 nghìn đồng đến 120 nghìn đồng, hôm nay 200 nghìn, thậm chí 300 nghìn vẫn có khách múc. Buổi chiều, một giám đốc của khách sạn thuộc công ty du lịch lớn cũng khoe tôi, khách sạn của anh có sức chứa là 200 nghìn khách mà hết chỗ từ chiều ngày 30 tháng 4. Tôi hỏi: “ Tăng giá chứ?”. Anh nháy mắt: “Các ông chỉ được cái cái hay nói đúng!”. Dạo quanh các quán xá, vỉa hè. Khiếp! Cái gì cũng đắt! Rặt tiền là tiền. Hình như quán nào cũng tìm cách bắt chẹt khách và có ý chỉ cần “chém” mỗi khách một lần. Chắc gì khách trở lại lần thứ hai. Ở bãi cháy, mỗi dịp có lễ hội thì đều diễn ra tình trạng này. Một chai bia Hà Nội, giá thường ngày bày, tám ngàn đồng.Tối ngày 30 tháng 4, sáng ngày 1 tháng 5 có quán bán tới 15 nghìn đến 20 nghìn đồng một chai. Nước khoáng Quang Hanh, chưng biển 2 nghìn đồng một chai, nhưng có quán bán là 3 nghìn rồi 5 nghìn đồng một chai. Một quả dừa nước, ngày thường là 5 nghìn đến 6 nghìn đồng một quả, ngày hội vụt lên là 8 nghìn đồng, rồi là 10 nghìn đồng một quả. Các điểm phục vụ tắm biển cũng xủng xoảng những tiền: giá thuê mộ bộ đồ tắm, một chiếc phao bơi bằng săm ô tô, bơm căng hơi là 5 nghìn đồng (tiền cược là 30 nghìn đồng), tiền nước ngọt, giá là 3 nghìn đồng. Đi vệ sinh là 2 nghìn đồng một lượt. Có lẽ điều đáng bàn đến là dịch vụ gửi xe, chẳng biết ai quy định, chiều ngày 30 tháng 4 gửi một chiếc xe đạp ở vỉa hè giá là 2 nghìn đồng, gửi một chiếc xe máy giá là 4 nghìn đồng, buổi tối và sáng ngày 1 tháng 5 vọt lên 4 nghìn đồng, một chiếc xe đạp, gửi một chiếc xe máy có điểm thu tới 10 nghìn đồng. Điểm gửi xe ô tô ở bãi của công ty Hoàng gia giá từ 10 nghìn đồng đến 20 nghìn đồng (tùy theo loại xe). Tôi hỏi một đôi vợ chồng trẻ, nhà bên Hòn Gai, tại điểm gửi xe ở đường đi vào khách sạn Vườn Đào, họ cho biết giá thuê khoảng là 30 mét vuông vỉa hè, trong ba tháng hè, giá 3 triệu đồng, bình quân một ngày phải nộp 30 nghìn đồng. Thảo nào họ chém đẹp khách. Tổ chức các điểm vui chơi, được coi là khâu yếu của du lịch Quảng Ninh, khách đến Hạ Long ngoài vài giờ đi thăm Vịnh chẳng còn biết đi đâu, chơi gì cho hết ngày. Cho nên nhiều năm nay số ngày khách lưu lại Hạ Long rất thấp, chỉ khoảng 1,5 ngày. Trong khi Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh từ 4 đến 5 ngày, Huế bình quân cũng cao hơn Quảng Ninh. Mùa du lịch năm 1999 xem ra các điểm vui chơi đang khẩn trương đầu tư. Công ty quốc tế Hoàng gia có nhiều điểm, nhiều nội dung vui chơi khá hấp dẫn nhưng có lẽ chỉ dành cho giới thượng lưu. Đúng là của hoàng gia thì chỉ những công nương, hoàng tử thưởng ngoạn. Bình quân mấy ai dám bước vào cửa. giá vé vào cửa đối với trẻ em là 15 nghìn đồng, cho người lớn là 60 nghìn đồng, ra đảo Rều: là 35 nghìn đồng. Hôm rồi tôi hỏi chuyện hai anh buôn cá bột từ Bắc Ninh ra Tiên Yên, là 1 nghìn con cá giống, đi về hơn là 2 nghìn đồng km, thời gian mất bốn ngày, mỗi anh lãi là 20 nghìn đồng. Các anh chắc chẳng biết Hoàng Gia ở đâu? May là ở điểm du lịch của thanh niên, năm nay tổ chức được một số trò chơi phục vụ cho các em như xe ô tô ray, ô tô điện, đu quay, ngựa quay nhưng lại vẫn là giá. Chơi khoảng một phút bay vèo mất 2 nghìn đồng đến 3 nghìn đồng. Công nhân viên chức lương cứng một cục, chiều con lắm cũng chỉ dẫn con đến đó được một lần. Thế đấy! Cảnh quan Hạ Long độc đáo, tuyệt vời thì cả thế giới biết rồi, công nhận rồi. Nhưng làm thế nào du khách đến một lần còn muốn đến nữa. Theo thông báo của ông Nguyễn Văn Tuấn, trưởng ban quản lý vịnh, hiện nay Quảng Ninh đang chuẩn bị các thủ tục cần thiết để trình Unesco công nhận giá trị khoa học của Hạ Long về mặt địa chất vào năm 2000. Nếu vinh hạnh ấy đến với Quảng Ninh thì người dân Quảng Ninh sẽ hạnh phúc và tự hào lắm. Vậy thì những sỏi sạn trong một chu trình du lịch rất cần được tỉa tót để xứng với một Hạ Long, điểm hẹn du lịch của những kỷ nguyên mới.
Đinh quân-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (22(74))1999.

Sau hè, Sầm Sơn biển hát… ai nghe?

Đến Sầm Sơn những ngày giữa tháng 5 tôi đã cảm nhận được âm thanh của một màu hè mới. Với thị xã vùng biển này dường như mùa hè là thời gian sự sống căng tràn nhất. Theo số liệu của Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn thì con số du khách đến với Sầm Sơn cùng doanh thu từ ngành du lịch tăng nhanh theo từng năm. Tốc độ này là đáng mừng, nhưng tôi còn nhớ rất lâu câu nói của một nhà kinh doanh du lịch ở đây coi như chết. Có đầu mùa thì phải nghĩ đến cuối mùa, không chỉ riêng ở Sầm Sơn mà tất cả các điểm du lịch biển từ trước tới nay chỉ dám tính tới thời gian kinh doanh từ 3 đến 4 tháng. Đặc biệt mùa vụ này cũng là trăn trở của các nhà kinh doanh, du lịch và cấp chính quyền địa phương. Tuy là một ngành kinh tế mạnh của thị xã, song hình như Sầm Sơn đã quen với nếp làm mấy tháng ăn cả năm. Thời gian còn lại nếu là dân địa phương họ quay sang chú trọng tới việc ra khơi đánh bắt hải sản. Còn các nhà kinh doanh đành gác các cơ ngơi của mình đi tìm mối làm ăn khác hoặc nằm chờ mùa du lịch mới. Phải chăng Sầm Sơn không thể hấp dẫn du khách hơn nữa? Nếu là du khách biết nhìn thấu đáo hẳn sẽ đồng ý với một tác giả khi họ viết “Sầm Sơn thực sự là mảnh đất sơn thủy hữu tình, là sự kết hợp hài hòa giữa biển sông núi cao, sông dài. Làng quê và cảnh sinh hoạt nơi đây đã tạo ra một bức tranh thiên nhiên tuyệt vời. Sầm Sơn đã và sẽ là trung tâm du lịch giàu đẹp, nên thơ nổi tiếng trong và ngoài nước…”. Có lẽ ý đoạn văn kia phác lên khái quát bức tranh về một vùng đất biển giàu tiềm năng du lịch. Nó hấp dẫn du khách không chỉ ở một loại hình khác như du lịch dã ngoại, tâm linh, nghỉ dưỡng… Nhưng nếu nói Sầm Sơn là một trung tâm du lịch giàu đẹp nổi tiếng trong và ngoài nước thì sẽ còn cả một chặng đường dài. Chứng kiến các hoạt động văn hóa thể thao đầy sôi động do Ủy ban nhân dân thị xã vừa tổ chức bắt nhịp quang cảnh chào mừng hè biển 1999 của các cơ sở du lịch, tôi chạnh lòng nhớ tới Sầm Sơn cách đây một vài tháng. Sân văn hóa im lìm, trung tâm thể thao lác đác có mấy cậu trẻ chọc bi a. Những chiếc lều quán dựng tạm không có khách trông càng xơ xác. Các nhà khách, nhà nghỉ thì tiêu điều, hiu hắt. Thực ra các cấp, các ngành địa phương đang có những cố gắng trong việc đưa Sầm Sơn trở thành trung tâm du lịch của cả tỉnh. Nhìn vào chương trình tour, tuyến do công ty du lịch Thanh Hóa xây dựng thì Sầm Sơn bao giờ cũng là điểm du lịch chung của Thanh Hóa là chưa thực sự thu hút khách bởi cơ sở hạ tầng còn kém, sơ sài, sản phẩm du lịch không phong phú. Vì thế cái điểm nút Sầm Sơn vẫn chỉ trông chờ khách đến mùa hè là chính. Hàng trăm chính quyền địa phương giải quyết được dần những tồn tại về mặt mới cho Sầm Sơn, nhưng chính yếu tố thời vụ luôn là một bài toán khó giải. Một trung tâm du lịch nghỉ dưỡng không thể ngủ tới 2 phần 3 thời gian trong một năm. Các nhà kinh doanh du lịch và lãnh đạo địa phương đều hiểu rõ điều này. Tôi thấm thía cái mong ước của quyền chủ tịch thị xã Sầm Sơn, ông Nguyễn Văn Phùng, vấn đề bức xúc của du lịch Sầm Sơn là nhu cầu của khách ngày càng cao trong khi nội dung phục vụ thì đơn sơ, quy hoạch chưa hệ thống, yếu tố con người chưa đáp ứng được. Các giải pháp chính bây giờ giúp cho 214 cơ sở lưu trú của Nhà nước và tư nhân sống được chủ yếu là mình tự cứu mình. Các nơi phải tự đào tạo qua các trường lớp về kinh doanh du lịch. Đồng thời tăng cường khả năng tiếp thị, cạnh tranh lành mạnh. Nếu đi sâu vào tìm hiểu các cơ sở lưu trú ở Sầm Sơn thì các giải pháp kia hoặc là như muối bỏ bể hoặc không thực hiện được vì cái tên nhà khách, nhà nghỉ. Nhà nghỉ tư nhân thì trông chờ vào túi tiền của họ. Còn các nhà nghỉ thuộc về nhiều ngành sau quyết định 317/TTg lại tìm nhiều hình thức khác để tồn tại. Tôi thấy buồn khi ông Phùng nói vui: “giải pháp của các cơ sở này là trở thành nhà điều dưỡng, trung tâm đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phục hồi chức năng… Chẳng mấy cơ sở dám đứng ra đường hoàng cạnh tranh lành mạnh. Cũng có những nhà khách kinh doanh thực sự lại gặp khó khăn từ phía cơ quan chủ quản. Họ không được phép tăng cường tiếp thị, thu hút khách nghỉ dưỡng chỉ vì họ vẫn là nhà khách của Bộ. Một số nhà khách khác thì nằm chờ định đoạt số phận. Mặc dù cơ sở xuống cấp nhưng mùa du lịch vẫn đón khách sạn như thường và định giá tùy theo đường và định giá tùy theo cường độ của khách. Khi nói chuyện với tôi các ông chủ ở đây ngao ngán đổ tội cho tính mùa vụ gây khó khăn cho họ. Các nhà kinh doanh du lịch ở Sầm Sơn thì cho rằng vì tính mùa vụ nên hoạt động của họ phải dừng lại sau hè. Còn tiềm năng của ngành du lịch ở Sầm Sơn lại chờ đợi bàn tay của con người. Biển Sầm Sơn đâu chỉ gọi du khách vào mùa hè, nó vẫn vỗ về đều đặn những ngày tháng trong năm, vẫn cung cấp những tài nguyên quý báu của mình cho con người. Hy vọng các nhà kinh doanh du lịch sẽ biết cách thu hút khách tới Sầm Sơn không chỉ để tắm biển mà con vì nó sức hấp dẫn hơn thế. Hãy bắt đầu bằng các cuộc hội nghị, tập huấn, dưỡng sinh của các cơ quan đoàn thể. Chắc chắn Sầm Sơn sẽ là một trung tâm du lịch giàu đẹp nổi tiếng.
Phạm Hương-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (22(74))1999.

Những vấn đề đang đặt ra

Từ một bức tranh đô thị đa màu: Trải qua 5 thời kỳ quy hoạch và phát triển, thành phố Huế mới có được diện mạo của ngày hôm nay một thành phố du lịch xinh xắn và thơ mộng, vừa cổ kính, vừa hiện đại chạy dọc bờ sông Hương. Tuy nhiên, do lịch sử và chiến tranh, trong nhiều năm dài, đô thị Huế phát triển tự phát, mà hệ quả là có hàng nghìn hộ gia đình định cư tự do, sống chen chúc với di tích. Chỉ riêng khu vực Thượng Thành, Eo bầu và dọc đường 68 đã có gần 1.700 hộ gia đình sinh sống. Đó là chưa kể hơn 1 nghìn hộ dân vạn đò định cư trên sông Hương, dọc sông Bạch Yến, Đông Ba, thuộc các phường Hương Long, Phú Cát, Phú Bình…và hàng trăm hộ gia đình khác sống chen chúc dọc Hộ Thành Hà, trước mặt kinh thành Huế, thuộc địa phận phường Phú Hòa mà người dân Huế vẫn quen gọi là khu vực Bờ Hồ. Số liệu điều tra gần đây cho biết, Thành phố Huế có hơn 30 vạn dân và khoảng 50 nghìn ngôi nhà. Trong đó, số nhà ở của người nghèo chiếm hơn một nửa, đi dọc khu vực Bờ Hồ (phường Phú Hòa), khu Bờ sông (phường Phú Cát), khu vực 7 (phường Phước Vĩnh) mọi người đều có một nhận xét chung là nhà cửa ở đây rất tạm bợ Số hộ gia đình có nhà ở kiên cố không nhiều. Phần lớn được che chắn bằng tôn, tre nứa, nhựa, nilon. Vách nhà này trở thành vách chung của nhiều nhà khác. Không ở đâu mà mật độ dân cư dày như ở đây. Chỉ một đoạn hẻm bờ hồ từ kiệt Ngân hàng đến Cửa Ngăn đã có 156 hộ gia đình sống. Cùng với cảnh ăn ở rất tạm bợ, chung chạ là tình trạng thiếu vệ sinh. Rác thải sinh hoạt được đổ vô tội vạ xuống lòng Hồ Hà thành. Vào mùa mưa, nước dềnh lên đầy rác rưởi, hôi hám vô kể. Chuyện thật như đùa, khi gần 80 hộ gia đình thuộc tổ 3, khu vực 1, phường Phú Cát hầu như không có đầu ra. Ngay cả nhà anh tổ trưởng Bùi Bá khi được hỏi về chuyện tế nhị ấy cũng chỉ cười xòa, bảo: “Nhà mình cũng bình đẳng như nhà bà con, nghĩa là muốn “ấy” thì ra sông”.
Đến những ngôi nhà chổ lạ lẫm
Giữa Thành phố Huế sang trọng với một hệ thống khách sạn dày đặc và những biệt thự du lịch thanh nhã, nhiều du khách đã bị sốc bởi những căn nhà chồ chắp vá, cao lênh khênh như đồ chơi trẻ con mọc lên ở đường Huỳnh Thúc Kháng, khu vực bờ sông, đối diện với mặt hông chợ Đông Ba, ven đường Phan Chu Trinh … là những căn nhà được xây tạm bợ, đính trên những cọc tre bấp bênh, diện tích sử dụng không quá chục mét vuông, nhưng sức chứa thì vô địch với hàng chục khẩu. Thăm căn nhà chồ vào loại khá nhất của chị Đỗ Thị Vân (khu vực 1, phường Phú Bình) cũng chỉ rất tềnh toàng. Trong nhà không có món gì đáng giá. Nói chuyện, chị cho biết mơ ước của gia đình là được định cư với sự giúp đỡ của Nhà nước. Với thời giá hiện nay, người nghèo người có thu nhập thấp ở thành phố Huế khó có thể mua nổi đất để làm nhà. Ở khu vực phường Phú Cát, một số cặp vợ chồng lấy nhau không có nhà ở, cũng không thuê nổi nhà, bèn ra bờ sông cắm đất, làm chòi. Cũng có một thực tế là nhiều hộ gia đình nghèo được Nhà nước cấp đất định cư hẳn hoi, nhưng nhiều năm rồi vẫn không làm nổi nhà. Quá nửa số hộ gia đình ở khu vực 7, phường Phước Vĩnh ở trong tình trạng như vậy. Ngay như nhà anh Lê Văn Sĩ, tổ trưởng tổ 18, gần 10 năm định cư cũng chỉ là một cái chòi rách nát. Anh bảo “mùa mưa khổ lắm, chỉ có nhờ những tấm nilon may ra mới khỏi ướt”.
Và lối ra vẫn còn để ngỏ
Người nghèo có nhà ở và vấn đề nhà ở cho người nghèo đã chỉ ra một thực tế: thực chất của vấn đề quy hoạch và quản lý đô thị Huế là giải quyết nhà ở cho người nghèo. Công bằng mà nói, những năm qua, Thành phố Huế đã có những nỗ lực lớn trong quy hoạch và quản lý đô thị. Vấn đề định cư vạn đò, giải quyết nhà ở cho người nghèo. Công bằng mà nói, những năm qua, Thành phố Huế đã có những nỗ lực lớn trong quy hoạch và quản lý đô thị. Vấn đề định cư vạn đò, giải quyết nhà ở cho người nghèo (bước đầu) đã được tiến hành. Các khu định cư nhà ở Kim Long, Trường An… đã được hình thành với tổng số vốn đầu tư hàng chục tỷ đồng, tạo ra những bước chuyển đổi, tạo ra những bước chuyển đổi, thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Cũng trong năm 1999, dự kiến tỉnh sẽ đầu tư 130 tỷ đồng để chỉnh trang đô thị. Trong đó chú trọng đặc biệt cho đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu định cư Hương Sơ, Kiểm Huệ, Đống Đa, Bà Triệu, khu dân cư Tây Nam – Thủy Dương, với dự toán trên 45 tỷ đồng. Theo ông Nguyễn Việt Tiến – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Huế, khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là kinh phí. Mặt khác trong khi tiến hành chỉnh trang đô thị cần có trọng điểm trọn gói và hiệu quả với một tiềm lực về người và của. Để tạo điều kiện cho người nghèo ở Thành phố Huế có nhà ở, cần có những chính sách hợp lý như điều chỉnh giá đất, sử dụng hiệu quả quỹ đất ở, đầu tư vốn xây dựng nhiều chung cư dưới dạng cho thuê dài hạn, hoặc trả góp. Vừa không cứng nhắc trong quy hoạch để mở rộng quỹ đất ở, vừa đảm bảo những nguyên tắc cơ bản của một đô thị hiện đại – giải quyết hài hòa giữa nhu cầu về nhà ở trước mắt và lợi ích đô thị lâu dài, xem vấn đề nhà ở cho người nghèo vừa là mục đích, vừa là nghèo vừa là mục đích, vừa là giải pháp lớn trên con đường chỉnh trang và hoàn thiện đô thị Huế trong tương lai.
Hoàng Bình Thi-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (22(74))1999.

Du lịch Thanh Hóa hướng tới thiên niên kỷ mới

Là một tỉnh lớn nằm phía Bắc Trung bộ Việt Nam, có vị trí địa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi, Thanh Hóa có 4 vùng tự nhiên rõ rệt: Miền núi, trung du, đồng bằng và miền biển, có đầy đủ thế mạnh để tập trung khai thác và phát triển đa dạng các loại hình kinh tế khác, trong đó du lịch được coi là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Với bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời, Thanh Hóa được mệnh danh là vùng địa linh nhân kiệt dấu ấn còn ghi lại ở các vùng quê với các đền đài, lăng mộ, thành quách… Các di tích văn hóa lịch sử này có giá trị đặc sắc về du lịch. Khu di tích Lam Kinh với bia mộ các đời vua Triều Lê như: bia Vĩnh Lăng (Lê Lợi), (Một trong những văn bia lớn nhất còn lại ở nước ta), bia Chiêu Lăng (Lê Thánh Tông) bia Du Lăng (Lê Hiển Tông)… Thành nhà Hồ hay còn gọi là thành Tây Đô một công trình quân sự bằng đá kỳ vỹ, kinh đô của vua Hồ Quý Ly ở thế kỷ 15. Ngoài ra còn nhiều di tích liên quan đến lịch sử các thời kỳ đấu tranh chống giặc ngoại xâm rất hấp dẫn và phù hợp để phát triển các loại hình du lịch thăm quan văn hóa, du lịch chuyên đề, du lịch nghiên cứu như: Đền thờ và lăng mộ Bà Triệu, căn cứ địa của phong trào cần vương chống Pháp Ngọc Trạo, Ba Đình, khu di tích Nam Ngạn – Hàm Rồng với chiến tích lẫy lừng của quân và dân Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước… Ngoài các di tích văn hóa – lịch sử, Thanh Hóa còn có nhiều thắng cảnh tự nhiên thấm đẫm chất huyền thoại, làm say lòng du khách trong và ngoài nước như: Bãi tắm biển Sầm Sơn với dãy Trường Lệ còn hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên, đền Độc Cước, Hàm Rồng, Núi Ngọc và dòng sông Mã nên thơ, Động Bích Đào với truyền thuyết Từ Thức gặp tiên, Của Hà, Suối Cá thần Cẩm Lương, Vườn cò Tiến Nông, Vườn Quốc gia Bến En với hàng chục ngàn héc ta rừng nguyên sinh hoang dã cùng muôn loài động vật, thực vật quý hiếm. Với số lượng di tích lịch sử – văn hóa và thắng cảnh phong phú có thể nói Thanh Hóa là một tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, điều kiện lý tưởng để có thể khai thác và phát triển các loại hình du lịch khác như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm biển… Những năm gần đây, du lịch Thanh Hóa đã có tốc độ phát triển tương đối khá. Sự đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh còn ở mức khiêm tốn nhưng đã trở thành yếu tố quan trọng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Cơ sở hạ tầng cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch đã và đang dần được nâng cấp, cải thiện. Vốn đầu tư cho du lịch tăng bình quân là 13% trong một năm. Năm 1994 tổng số vốn tham gia hoạt động kinh doanh du lịch khoảng 150 tỷ đồng. Đầu tư có trọng điểm, có chiều sâu. Vì thế khách du lịch vào Thanh Hóa ngày càng tăng. Từ những năm 1990 trở lại đây, số lượng khách tăng bình quân là 12% cho một năm, doanh thu tăng bình quân là 15,4% cho một năm. Tuy nhiên sự tăng trưởng và phát triển của du lịch Thanh hóa vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển. Sản phẩm du lịch và dịch vụ chưa phong phú, chất lượng chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, hiệu quả kinh doanh chưa cao. Nhằm khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh, tiếp tục phát triển ngành du lịch trong những năm tiếp theo, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu cho ngành Du lịch là: phấn đấu đến sau năm 2010 Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm du lịch của cả nước, trước mắt đến năm 2005 phải đạt được các chỉ tiêu: tăng trưởng bình quân là 14% trên một năm, 910 lượt khách.. doanh thu đạt 270 tỷ đồng. Để đạt được các mục tiêu trên cần phải triển khai và thực hiện tốt Nghị quyết 11/TU của Ban thường vụ tỉnh ủy Thanh Hóa về phát triển kinh tế du lịch, nhanh chóng hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết các cụm vùng du lịch, có kế hoạch đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, đặc biệt chú trọng xây dựng các điểm, tuyến du lịch trọng điểm như: Từ Sầm Sơn đi Bến En, Thành nhà Hồ, Cẩm Thủy, Lam Kinh, Nga Sơn, Nghi Sơn… xây dựng các dự án khả thi và kêu gọi vốn đầu tư, tăng cường công tác quảng bá du lịch, đầu tư tôn tạo và quản lý khai thác tốt các di tích văn hóa – lịch sử, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, quan tâm làm tốt vệ sinh môi trường, giữ vững an ninh an toàn xã hội, chú trọng bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch… Hưởng ứng chương trình hành động quốc gia về du lịch năm 2000, du lịch Thanh Hóa đã xây dựng chương trình hành động về du lịch Thanh Hóa năm 2000 với chủ đề: “Du lịch Thanh Hóa hướng tới thiên niên kỷ mới”, mục tiêu chính là: nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành xã hội về vai trò, vị trí của du lịch, giáo dục toàn dân trong việc giữ gìn, tôn tạo và khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch, nâng cao hình ảnh của tỉnh Thanh Hóa nói riêng trên phạm vi cả nước và quốc tế, với việc giới thiệu sản phẩm du lịch đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa xứ Thanh, tạo tiền đề cho du lịch Thanh Hóa bước vào thế kỷ 21 một cách tự tin, để Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm du lịch hấp dẫn đối với khách trong và ngoài nước.
Thu Thủy-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (22(74))1999.