Cuồng ẩn sĩ trên núi Thiên Nhẫn

Ông có rất nhiều tên để gọi. Ông tự gọi mình là Lạp Phong cư sĩ, là Hạnh Am cư sĩ và Cuồng ẩn sĩ. Người đời gọi ông là Lục Niên hầu (mặc dù ông không hề được phong tăng tước hầu bao giờ), là La Giang phu tử (người đàn ông bên sông LA). Hoàng Đế Quang Trung thì gọi ông là La Sơn phu tử. Có lẽ số phận ông gắn bó mật thiết với người anh hùng dân tộc áo vải cờ đào nên sử sách và con cháu đời nay biết ông với cái tên do vua gọi ấy.
La Sơn phu tử sinh năm 1723 tại xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 19 tuổi ông theo chú là Nguyễn Hành ra Hải Dương ăn học và được Hoàng giáp Nguyễn Nhiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du) kèm cặp, dạy bảo. Chú mất, ông đau buồn đi lang thang rồi nhờ thiên hạ giúp đỡ, cuối cùng cũng lần được về nhà. Rồi đậu Giải khoa Quý Hợi (1743) đời vua Lê Cảnh Hưng. Nhưng ông vẫn một mực không chịu tiếp tục thi Hội (để lấy Trạng nguyên hay Tiến sĩ). Ông nói với thầy: “Con chỉ vì không có bụng với hoàng thạch (hoạn lộ) mà thôi”. Như vậy là từ năm 21 tuổi, Nguyễn Thiếp đã nhìn rõ thời cuộc tao loạn, nhà chúa lấn át nhà vua, nông dân vùng dậy vì đói khổ, ly tán. Liệu có thể đưa tâm huyết kẻ sĩ ra mà cứu đời trong hoàn cảnh ấy không ? Nguyễn Thiếp đã chọn không. Và ông rời đương quan lộ, dấn thân vào chính cuộc sống thực của nhân dân, như ông tự nhận trong Hạnh Am ký: “Bỏ khoa cử, chuyên đọc sách và tìm tòi nơi non xanh nước biếc mà đi. Dấu chân để lại khắp đất Nam châu”. Thơ của ông: “Nghĩa còn đỉnh hoặc thơm tho – Đạo suy ẩn với giang hồ cũng thanh – Mặc ai cái bệnh đua ganh – Sông Nghi tắm mát, xuân quanh bốn mùa” (Hoàng Xuân Hãn dịch). Cái chí giang hồ, ẩn cư ấy thấm đẫm linh hồn của sông Lam núi Hồng, rèn dũa trong ông tâm thế của một lữ khách tuy không xuất, không xử như thường tình nhưng vẫn ưu thời mẫn thế. Chính vì vậy mà khi đất nước bị xâm lăng, ông mới có được cái tầm nhìn của nhà chiến lược khi hơn ba mươi năm sau, khuyên vua Quang Trung hãy thần tốc trong chiến dịch “mùa xuân đại thắng” năm Kỷ Dậu: “Nếu đánh gấp thì không quá mười ngày sẽ phá tan giặc”.
Tuy vậy, sau nhiều năm giang hồ, năm Bính Tý (1756) con người tự nhận là “Cuồng ẩn sĩ” ấy cũng vì sinh kế, vì thời thế mà ra nhận một chức quan còm: huấn đạo Anh Sơn. Sau mấy năm làm huấn đạo, rồi tri huyện Thanh Giang, sẵn đất Bùi Phong trên núi Thiên Nhẫn, năm 46 tuổi, Nguyễn Thiếp lại trở về cuộc đời ẩn sĩ. Trong Hạnh Am ký, ông mô tả trại Bùi Phong của mình: “có ghềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu. Núi trồng được cây, khe đánh được cá, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ nuôi, bệnh mười phần giảm được tám chín. Đến lúc các con lớn khôn, bảo chúng cùng lên, mới chỉnh lý lại một phen cho rồi việc. Nuôi trâu bò, trồng cây, cày ruộng, dệt vải đều làm lấy mà ăn…”. Đây là thời gian Bùi Phong cư sĩ Nguyễn Thiếp nổi tiếng xa gần. Cũng như Hội Am, một làng hẻo lánh bên sông Văn Úc đã từng trở thành một trung tâm văn hóa nhờ bóng cả Nguyễn Bỉnh Khiêm, trại Bùi Phong nổi tiếng đương thời nhờ cư sĩ Nguyễn Thiếp. Nhiều nhân vật văn hóa thư từ, đến tận nơi đàm đạo với ẩn sĩ. Năm Canh Tý (1780) chúa Trịnh Sâm lại gọi ông ra, muốn dùng ông để thêm vây cánh lấn át vua Lê. Hai người khác nhau quan điểm nên ông không được Chúa dùng. Năm 61 tuổi (1783) ông soạn thảo cuốn hồi ký Hạnh Am thi của gồm các bài văn, bài thơ viết về cuộc đời mình. Nhưng không chỉ là hồi ký. Trong tác phẩm giá trị này ông đã bày tỏ ý ông, chí ông, nỗi ưu thời mẫn thế của ông với người đương thời và hậu thế.
Thế rồi, bắt đầu sự gắn bó với vua Quang Trung. Nguyễn Huệ đã ba lần “tam cố thảo lư” mời ông ra giúp giập nhưng cả ba lần ông đều thác bệnh mà từ chối. “Nay thiên hạ khốn khổ, không cùng phu tử cứu gỡ thì không biết cùng ai….” Lần thứ ba ông miễn cưỡng xuống núi gặp vua, tuy ông vẫn cáo từ chức tước, chỉ nhận giúp nhà vua tìm đất dựng đô mới mà thôi. Cuối năm, khi 20 vạn quân Thanh còn đóng chiếm Thăng Long, vừa lên ngôi Hoàng Đế ngày 25, ngày 29 vua Quang Trung kéo quân đến Nghệ An. Nhà vua mời La Sơn phu tử đến hỏi việc nước. Ông đã nhận định thế chiến lược của việc đuổi giặc, đưa ra lời khuyên thần tốc kể trên. Nguyễn Huệ mừng, trả lời: “Phu tử nói rất hợp ý tôi”. Đánh thắng giặc trở về, giữa Nguyễn Huệ và La Sơn phu tử đã có một tình thâm giao tri kỷ giữa anh hùng với lữ khách. Nhà vua cấp bổng lộc cho ông, ép mãi ông mới nhận. Ông vào Phú Xuân dâng tấu bàn về quân đức, nhân tâm và học pháp, đại khái nói về cái đức lớn, gương mẫu của vua hiền, dân vững tâm thì nước mới yên và cuối cùng, việc học hành phải được coi trọng, phải được cải tiến. Ông chỉ ở lại mười ngày rồi về núi cũ. Vua Quang Trung đành đồng ý cho ông vừa làm sơn nhân vừa đem sở học ra giúp đỡ nhà vua.
Chỉ ba tháng sau khi vua Quang Trung mất, La Sơn phu tử trả hết bổng lộc, trở về cuộc sống nghèo túng trong trại Bùi Phong trên núi Thiên Nhẫn. Vua Quang Toàn nguy cấp triệu ông vào kinh xin ý kiến. Ông bị mắc kẹt ở đó khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân. Rồi triệu ông đến chuyện trò có ý trách về việc ông giúp Nguyễn Huệ. Nhưng cuối cùng vẫn sai người đưa ông về quê nhà, nói: “Người hiền nên kính trọng, người già nên để cho người ta yên”.
Nguyễn Thiếp mất đầu năm 1804, thọ 81 tuổi. Ông không phải nhà thơ lớn, cũng không là nhà cầm quân hay chính khách có quyền lực thật sự. Ông để lại cho đời sau một khuôn mặt không thể phai mờ về nhân cách sống, một nhân phẩm và một tấm lòng yêu nước thương dân mà không màng danh lợi, không sợ uy vũ.
Song Ân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.