Đón tết ở Nam bộ – Phần 1

Lịch sử khẩn hoang hơn 300 năm của vùng đất Nam bộ đã chứng kiến sự hòa hợp, tương thân, tương ái của các dân tộc Việt, Hoa, Chăm, Khmer. Trong quá trình giao lưu, cộng cư nền văn hóa của mỗi dân tộc được tiếp nhận tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác, tạo nên sự đa dạng của văn hóa cộng đồng. Dẫu là người Việt, người Hoa, người Chăm hay người Khmer, ngày tết năm mới là ngày lễ chung lớn nhất. Sau đó, mỗi dân tộc lại đón lễ năm mới theo phong tục riêng.

Nhiều tư liệu lịch sử đã dẫn rằng, từ nữa đầu thế kỷ XIX cư dân người Việt ở Nam bộ chuẩn bị tết Nguyên Đán từ ngày cúng Táo quân (23 tháng Chạp). Đêm 28 tháng Chạp, một đoàn hát sắc bùa khoảng 15 người đi rong ngoài đường đánh trống, gõ phách inh ỏi. Đến nhà nào hoặc công sở còn mở cửa thì dừng lại dán bùa lên cửa rồi ca hát mừng cho chủ nhà. Hát xong sẽ được chủ nhà mời rượu, trà và cho tiền bạc. Đoàn hát sắc bùa cứ đi từ nhà này sang nhà khác cho đến tận giao thừa. Hát như thế để xua đuổi tà ma, xúi quẩy, đón may mắn, lộc phước của năm mới về. Giống như các vùng khác, để dón tết, người phương Nam  cũng dựng cây nêu, quét dọn, trang trí nhà cửa, bầy bàn thờ cúng gia tiên với hoa trái, sản vật địa phương. Mâm quả tết thường không thể thiếu dưa hấu, dừa, xoài, thơm, mãng cầu xiêm… Cỗ tết ngoài rất nhiều món ăn, vẫn phải có những món đặc trưng là bánh tét, thịt kho nước dừa… Để tỏ lòng biết ơn tổ tiên, trong những ngày trước tết người ta thường rủ nhau đi sửa sang, tu bổ phần mộ. Không giống với vùng Bắc bộ có tục kiêng ăn thịt vịt vào ngày tết vì sợ xui xẻo, để tỏ lòng hiếu thảo – kính trọng, chàng rể Nam bộ thường mang đến biếu bố mẹ vợ một cặp vịt cuối năm. 
Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã mô tả rất sinh động các kiểu du xuân (đu tiên, đu thang, đu giằng xoay, đu rút) của thanh niên Gia Định hồi thế kỷ XIX. Sẽ không là tết của người dân vùng miệt vườn, sông nước nếu thiếu đờn ca tài tử – Món ăn tinh thần, đặc sắc.
Trần Kim Dung – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL Hà Nội –  năm 19 (288) 2003