Lịch sử với nghệ thuật sân khấu

4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là một trang sử chói lọi và vẻ vang, chính vì thế mà đề tài lịch sử đã có những bước đi vững chắc và xuyên suốt trong các sáng tác văn học, đặc biệt trong nghệ thuật sân khấu. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, đề tài lịch sử cần được xác định rõ ràng hơn, cụ thể hơn và có chiều sâu hơn.
Cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân ta dưới sự chỉ huy sáng suốt của các thiên tài quân sự (Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…) chống giặc ngoại bang luôn là đề tài quan trọng của sân khấu chèo, tuồng, cải lương, kịch nói. Qua đó, công chúng thấy được hào khí một thời của dân tộc và càng hiểu sâu sắc hơn, chính xác hơn lịch sử vẻ vang của đất nước. Bên cạnh đó, đề tài giữ nước với xây dựng nhân vật lịch sử điển hình cũng được đề cập khá nhiều, thường là tôn vinh, ca ngợi ý thức tự lực, tự cường, đoàn kết toàn dân và chính sách ngoại giao linh hoạt sáng suốt. Điều này, hoàn toàn đúng là một vấn đề nên làm và cần làm. Nhưng có một thực tế mà chúng ta phải nhìn nhận, đó là việc đất nước liên tục chịu nguy cơ ngoại xâm và đã từng bị xâm lược, do đó bài học dựng nước mỗi thời cần phải được các tác giả sân khấu phản ánh, khai thác chính xác, để xác định giá trị được – mất rõ ràng. Ngoài ra hiện nay, trước xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa về mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội và sự xâm nhập văn hóa phản động. Bởi vậy hơn ai hết, các tác giả sân khấu cần phải nêu bật truyền thống, bản sắc văn hóa, bản sắc con người qua chính những “đứa con tinh thần” của mình. Song song với việc đề cao bản sắc văn hóa, vấn đề giáo dục con người cũng là trách nhiệm của các tác giả sân khấu, bởi thời đại nào, chế độ nào, tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người cũng là yếu tố quyết định tạo nên phần “hồn” của dân tộc Việt Nam. Đã có không ít các tác giả lấy xưa nêu gương nay, và tác dụng của hình thức này có thể không nhanh chóng không mạnh mẽ, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cách nhìn nhận và ý thức tự điều chỉnh hành vi của mỗi người.
Trong xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm sống lại các bài học lịch sử là một việc làm có nhiều ý nghĩa, rất đáng dành thời gian, trí tuệ, tâm sức, tài năng, và tiền của để làm cho tốt.
Suối nước nóng Bình Châu
Từ huyện Xuyên Mộc, An Giang, theo lộ 23 đi khoảng hơn 29 km sẽ tới khu du lịch nước khoáng nóng Bình Châu. Giữa ngút ngàn một vùng rộng hơn 7.000 ha rừng nguyên sinh, rừng cấm quốc gia, nổi lên một bàu nước nóng với hơn 70 điểm phun nước lộ thiên. Vùng có nước nóng hoạt động rộng khoảng hơn 1km2, gồm có nhiều hồ lớn, nhỏ tạo thành các dòng chảy với lưu lượng nhỏ. Vùng hồ rộng nhất khoảng 100 m2, sâu hơn 1m. Đây là điểm nóng nhất, nước lúc nào cũng sủi tăm, bốc hơi tạo thành một nồi xông hơi thiên nhiên khổng lồ. Nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 64oC, đáy nước là 84oC. Những chỗ nông, nước chỉ nóng khoảng trên 40oC, có thể ngâm chân, tay để chữa bệnh. Điều hấp dẫn, thú vị là tại khu vực nước nóng này rừng tràm lại vẫn xanh tươi, một loại cỏ rễ chùm, lá cứng vẫn sống cùng năm tháng tạo thêm vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên. Đây là điểm du lịch rất hấp dẫn đối với du khách yêu thiên nhiên và muốn đi du lịch kết hợp với nghỉ ngơi và chữa bệnh.
Hồ Xuân Hương
Là hồ đẹp nhất nằm trung tâm thành phố Đà Lạt, Hồ Xuân Hương là hồ lớn ở Đà Lạt, rộng chừng 5km2, có hình mảnh trăng lưỡi liềm, là nơi thơ mộng, cuốn hút khách nhàn du, cũng là nơi hò hẹn của những đôi bạn tâm tình.
Mặt hồ phẳng lặng như tấm kính pha lê, soi bóng những hàng thông reo hát suốt ngày đêm. Những con đường quanh hồ rợp bóng cây tùng, tạo thêm vẻ thơ mộng cho hồ. Du khách có thể ngồi dưới gốc tùng buông lưỡi câu, hoặc đi chơi trên mặt hồ bằng những chiếc xe đạp nước mang dáng con thiên nga, hoặc dừng chân ở nhà thủy tạ với cách kiến thức đặc biệt, để thưởng thức những ly nước ngọt đậm đà hương vị Đà Lạt.
Dương Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch- Bộ văn hóa – Thông tin- Du lịch – Hà Nội – Số 52- Năm 2001

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.