Mờ nhạt tranh dân gian

Những ai quan tâm tới tranh dân gian, hẳn là biết đến dòng tranh nổi tiếng một thời ở xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây – tranh đỏ Kim Hoàng.
Các nghệ nhân Kim Hoàng chuyên in tranh trên giấy hồng điều hoặc giấy tàu vàng nhập của nước ngoài, nên tranh Kim Hoàng được gọi là tranh đỏ để phân biệt với tranh trắng (in trên giấy trắng) như tranh Đông Hồ và Hàng Trống. Tranh Kim Hoàng lấy chấm phá làm chính, nét đen in sẫm của bản khắc gỗ không gò bó mảng màu của tranh, nên tranh có vẻ phóng khoáng đặc biệt. Với cách làm ấy mà tay nghề vững thì tờ tranh rất có hôn, nó mang nét vẽ tài hoa của tay bút có thần, hoạt bát và sôi động. Sau trận vỡ đê Liên Mạc 1915, bản khắc của làng thất lạc khá nhiều, người làm tranh cũng thưa dần, và đến cách mạng 1945 thì tranh Kim Hoàng mất hẳn mà giờ chỉ còn là hoài niệm xa xôi. Anh Nguyễn Tuấn Thành, cán bộ văn hóa xã Vân Canh nói rằng, trong cơ cấu phát triển ngành nghề truyền thống, xã chỉ chủ trương khôi phục lại cây cam Canh, một sản vật nổi tiếng của địa phương, còn nghề tranh thật khó! Bởi lẽ thật đơn giản: Ai làm? Làm ra biết bán cho ai?
Tranh Hàng Trống cũng ngày càng mờ nhạt và rơi vào quên lãng. Dòng tranh này chủ yếu là tranh thờ, khai thác tín ngưỡng bản địa. Ngoài ra, cũng có những bộ tranh tứ bình, tranh tố nữ, tranh minh họa truyện kiều… rất đẹp, tinh xảo. Đối tượng phục vụ của dòng tranh này là thị dân, nên không gian tranh thường là những phòng khách sang trọng hoặc nơi linh thiêng… Dòng tranh, “vang bóng một thời” ấy giờ chỉ còn duy nhất một hậu nhân nối nghiệp tổ truyền Lê Đình Nghiên. Theo nghệ nhân Lê Đình Nghiên thì trong những nguyên nhân khiến tranh Hàng Trống không phổ biến được là bởi khổ tranh khá lớn. Nếu có muốn gửi tranh ở các gallely, thì tốt nhiều diện tích quá, không có chỗ treo. Thứ nữa phải, giá tranh rẻ, chỉ một vài trăm nghìn nên những người kinh doanh tranh cũng không mấy tha thiết, mặn mà. Ông Nghiên bảo, chỉ làm nghề không thôi thì không đủ sống. Ông phải làm thêm cả việc bồi tranh.
Làng tranh Đông Hồ nổi tiếng là thế mà nay cũng chỉ còn 3 gia đình còn làm, đó là gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam, gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và gia đình nghệ nhân Trần Nhật Tấn. Với nhiều cố gắng khôi phục nghề cổ, từ năm 1995, tranh Đông Hồ bắt đầu có những dấu hiệu khởi sắc. Hai năm trước, các nghệ nhân ở đây đã thành lập ra Câu lạc bộ tranh Đông Hồ và chuẩn bị cho việc thành lập nhà truyền thống tranh Đông Hồ. Tuy nhiên, tranh Đông Hồ bây giờ đã được cách tân nhiều. Người ta đã “sáng tạo” thêm đề tài, phong cách mới, khiến cho diện mạo tranh hiện nay ít nhiều khác trước. Màu dùng không hoàn toàn là màu dân gian nữa, có khi là phẩm màu, thuốc vẽ. Giấy dó cũng bị pha chế ít nhiều, nên không còn đẹp, mềm mại như trước. Trên thị trường còn xuất hiện loại tranh Đông Hồ rởm, in bằng phẩm màu nhòe nhoẹt, thấm cả ra mặt sau tờ giấy.
Từ thực trạng trên, có ý kiến cho rằng, tranh dân gian không phù hợp với không gian kiến trúc hiện đại. Thế nhưng, người ta đã và vẫn kết hợp được các yếu tố truyền thống và hiện đại trong thiết kế nội thất. Như vậy, vấn đề là ở ý thức và trách nhiệm của chúng ta trước những dòng tranh dân gian mang đậm bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc mà thôi.
Một đêm với Konkơtu
Tôi theo một đoàn khách du lịch từ Thành phố Hồ Chí Minh vào làng Konkơtu của dân tộc Bana. Làng Konkơtu cách thị xã Kon Tum độ chừng 10km với con đường đất đầy ổ trâu, ổ voi rất khó đi.
Làng Konkơtu khoảng trên 50 hộ dân với chừng trên 330 nhân khẩu thuộc nhánh Rơngao, một trong hai nhánh chính của dân tộc Bana. Người dân Konkơtu còn nghèo, ngay cả cái ăn vẫn chưa đủ chứ đừng nói đến các vật dụng trong nhà. Tiếp tôi, già làng A Xếp cho biết: “Du lịch tốt lắm. Bây giờ thanh niên đã biết đánh cồng chiêng rồi chứ hồi chưa có du lịch thì trong làng chỉ có người già mới biết đánh thôi. Nhờ du lịch, làng đã mua được bộ cồng chiêng tốt và sửa lại nhà Rông rồi…”
Đúng như lời già A Xếp nói, trời bắt đầu chập choạng tối, dân làng đã tụ tập đông đủ ở nhà Rông, nhiều nhất vẫn là trẻ em, vui đùa hồn nhiên làm cho bản làng trở nên sống động hẳn.
Ngọn lửa được đốt lên, ché rượu cần được bày ra, những chàng trai đóng khố, cô gái mặc trang phục truyền thống đang tiến lại gần. Một tiếng hú dài đầy hoang dã, đậm chất Tây Nguyên vang vọng như khơi dậy không khí hưng phấn của một lễ hội truyền thống. Ngọn lửa sáng bừng, giúp tôi có dịp ngắm kỹ nhà rông. Nhà dài chừng 10m, rộng 5m nhưng mái cao vút đến 16m, hình lưỡi rìu. Nhà rông là nơi sinh hoạt của dân làng và dành cho khách muốn nghỉ lại sau đêm hội cồng chiêng.
Đoàn khách du lịch nhanh chóng bị cuốn hút vào nhịp điệu của những bài cồng do dân làng biểu diễn và những điệu múa xoong nhịp nhàng, uyển chuyển do các thiếu nữ dân tộc thể hiện. Du khách càng cảm thấy ấm áp khi được các thiếu nữ mời rượu cần.
Sau bài “chào đón”, vòng tay của chủ khách đan xen, khoảng trống không còn nữa. Bài “rước dâu về nhà chồng” với nhịp chiêng vui vẻ rộn rã, động tác múa nhanh, rồi những bài cồng tiếp theo cứ thế hóa vào ánh lửa bập bùng và men rượu nồng… Khi vòng múa đã tản ra, tiếng cồng chiêng đã kết thúc nhưng du khách vẫn nán lại để giao lưu cùng với dân làng. Chủ hát những bài bằng tiếng Bana và khách hát đáp lại bằng những bài hát họ yêu thích.
Đêm ở Konkơtu là thế đó. Nhưng chỉ với một đêm thì làm sao có thể khám phá hết những điều bí ẩn và huyền diệu ở nơi đây.
Huy Quân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 45(210)2001

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.