Ngổn ngang Trung tâm dịch vụ việc làm- Phần 3

Người phụ trách một TT việc làm ở phố Trần Đăng Ninh (Hà Nội) cho hay: lao động phổ thông: 300.000đ – 500.000đ. Tốt nghiệp đại học: 3 – 4 triệu đồng. Ai muốn có chỗ làm tại khu công nghiệp Sài Đồng cứ “chịu khó” bỏ ra đây 500 – 700 USD!
Các chuyên gia nói gì?
Ông Trần Văn Thạc, Chuyên viên chương trình xúc tiến việc làm Quốc gia (Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội ) cho biết, hiện nay Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội đang kiến nghị Chính phủ sửa Nghị định 72/CP cho tình hình thực tế. Trước không thu, vậy nay có thu thì phải quy định rõ ràng, tránh tình trạng lộn xộn như hiện nay. Nhằm phần nào đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội cũng đang xây dựng dự án “Thông tin thị trường lao động” trình Chính phủ phê diệt. tuy nhiên, chuyện hòa mạng các thong tin về thị trường lao động như một số ý kiến là rất khó “vì những thông tin này là miếng cơm manh áo của các trung tâm dịch vụ việc làm, đời nào họ cho không” –ông Thạc giải thích.
Bên cạnh đó, để hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm đi vào trật tự còn cần đến sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan hữu quan. Ông Dương Văn Tịnh kiến nghị: Ngành kế hoạch – Đầu tư cần thiết phải có sự thỏa thuận với ngành Lao động – Thương binh – Xã hội mỗi khi cấp phép kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động môi giới việc làm.
Tuy nhiên, trên đây cũng chỉ là những biện pháp mang tính chất lượng, hiệu quả các trung tâm dịch vụ việc làm , nhiều chuyên gia cho rằng cần có một cuộc “đại cách mạng”. Rất nhiều nước trên thế giới không thu phí đối với người lao động. Mọi chi phí đều rút từ ngân sách Nhà nước hoặc Quỹ hỗ trợ xúc tiến việc làm. (trừ một số vị trí công việc đặc biệt). Ngay cả việc đào tạo cũng trả về cho các trường dạy nghề. Những yếu tố này khiến cho hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm mang lại hiệu quả cao tránh được các tiêu cực. Nên chăng, ta cũng học theo cách làm của họ.
Đồng tiền Việt Nam dưới các triều Đại
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, tiền được đúc bằng một số kim loại thông dụng nhưng phổ biến và chủ yếu nhất là bằng đồng.
Tiền đồng Việt Nam hầu hết có đúc chữ nổi, ghi niên hiệu các đời vua trên mặt đồng tiền nên rất dễ dàng có thể biết được niên đại.
Tính từ thời Đinh Tiên Hoàng (970 – 979) là ông vua đầu tiên cho đời Bảo Đại (1926- 1945) là ông vua cuối cùng cho đúc tiền, thì tiền đồng Việt Nam đã được đúc tất cả 225 loại với số lượng hàng triệu đồng tiền đã được được lưu hành.
Nhiều ông vua trong suốt thời gian trị vì chỉ cho đúc một loại tiền đồng (số này chiếm đến 65% các đời ông vua cho đúc tiền). Một số ông vua khác thì cho đúc 2 -3 loại tiền. Nhưng cũng có ông vua đã đúc rất nhiều tiền, ghi nhiều niên hiệu khác nhau. Tiêu biểu Nguyễn Huệ (1788 – 1792) – 6 lần; Lê Chiêu Thống (1787 – 1788) – 7 lần; Nguyễn Dực Tông (1848 – 1883) – 21 làn; Nguyễn Hiến Tổ (1841 – 1847) – 41 lần. Nhiều nhất là Lê Hiển Tông (1740 – 1786) và Nguyễn Thánh Tổ (1820 – 1840) – cùng
Xuân Thủy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.