Vì sao đội thi hành án làm trái pháp luật ?

Việc phát mại tài sản đã hoàn tất mà Đội thi hành án chỉ có ý định trả Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình 89 triệu, số lãi là 37.977.733 đồng Đội thi hành án định đánh bài “lờ” ? Và hiển nhiên Đội thi hành án thị xã Ninh Bình đã cố tình không thực hiện quyết định của Tòa án đã tuyên tại bản án DSPT số 34 ngày 19/10/1998.
Theo công văn số 3 của Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình gửi Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình, để thi hành bản án kịp thời, Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình đã chi tiền để Đội thi hành án tiến hành việc họp, kê biên tài sản theo đề nghị tạm ứng của Đội thi hành án. Bà Nguyễn Thị Huệ cho biết đã 2 lần tạm ứng của Đội thi hành án. Bà Nguyễn Thị Huệ cho biết đã 2 lần tạm ứng với tổng số 3.750.000 đồng. Số tiền này lẽ ra Ngân hàng thương mại nông thôn Ninh Bình không phải chịu, nhưng nay vẫn chưa được trả lại.
Nói là mượn tờ giấy thế chấp tài sản để cho người mua xem, nhưng thực chất lại sử dụng vào việc trao đổi mua bán tài sản đã kê biên và đề nghị Ủy ban nhân dân phường, phòng địa chính, thị xã cấp giấy phép cho ông Thực bà Giang bán nhà là sự dối trá không thể chấp nhận được. Theo ông Nguyễn Danh Hào, Chánh thanh tra Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Ninh Bình thì đây là hành vi lừa đảo của Đội thi hành án thị xã Ninh Bình.
Đến đây, dư luận không thể không nhắc tới trách nhiệm của Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình, bởi Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình đã gửi công văn số 33 ngày 24/3/1999 tới lãnh đạo Sở Tư pháp. Những từ đó đến nay Sở không có sự chỉ đạo buộc Đội thi hành án phải thực hiện nghiêm túc theo pháp luật. Phải chăng sự bao che dung túng cho cấp dưới đã dẫn tới sự vi phạm trở thành hệ thống. Bởi qua 4 vụ kiện đòi nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình thì ngoài vụ ông Thực bà Giang, Đội thi hành án thị xã Ninh Bình còn chưa thi hành nghiêm túc bản án khác. Đó là bản án số 05 ngày 25/6/1996 của Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Bình quyết định đương sự Phạm Thị Thảo và Đăng Văn Cần phải trả Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn số tiền vay gốc và lãi là 46.222.000 đồng. Nhưng theo bà Nguyễn Thị Huệ, tài sản thế chấp đã bán mà đội thi hành án mới trả 44.522.000 đồng, thực tế còn thiếu 7.200.000 kể cả lãi mới tính đên ngày 21/11/1998. Số tiền còn thiếu đến nay không biết đã phát tán nơi nào. Và ở Ninh Bình còn bao nhiêu ngân hàng khác phải nhờ tới pháp luật đòi nợ, liệu họ có cùng chung cảnh ngộ như Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình ?
Cũng theo bà Nguyễn Thị Huệ cho biết, sau nhiều lần trực tiếp gặp Đội thi hành án để yêu cầu trả lại tài sản cho ngân hàng của mình, bà Huệ đã bị một vài cán bộ, chấp hành viên ở đây lăng nhục, thách thức và dọa nếu không nhận 89 triệu đồng thì sẽ sung công quỹ ? Như vậy Đội thi hành án Thị xã Ninh Bình đã cố tình vi phạm pháp luật. Mong Sao các cơ quan pháp luật của tỉnh Ninh Bình sớm ra tay để lập lại cân bằng, ổn định lại trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của Ngân hàng thương mại cổ phần Nông Thôn Ninh Bình, trong đó có quyền lợi của nhiều cổ đông trong tỉnh.
Nhóm PV điều tra-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Viết từ bãi biển Phu-két – Phần 3

Trông người lại nghĩ đến ta
Trường hợp của đảo Phu-két nói trên chỉ là một trong nhiều điểm du lịch thành công của Đông Nam Á. Song nó cũng cho thấy vai trò và mối quan hệ giữa nhà nước và yếu tố hợp tác của người dân bình thường là quan trọng như thế nào đối với mục tiêu phát triển du lịch nước nhà. Thiết nghĩ, Phu-két chỉ là một hòn đảo nhỏ tầm thường mãi mãi bị lãng quên nếu không có một hạ tầng cơ sở hợp lý như vậy hoặc sẽ là một sự lãng phí nếu như sự đầu tư đó không được tính toán đúng hoặc nếu không có một sự phối hợp hài hòa giữa người dân và chính phủ và giữa các ngành hải quan, hàng không và các ngành kinh tế khác của cả nước. Mặt khác, sự thành công của Phu-két còn nhờ việc biết kết hợp thế mạnh của rừng và biển với các đặc điểm tôn giáo, văn hóa và lao động thủ công của con người bản xứ, nhờ vậy mới đủ sức đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách từ nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Thông thường một du khách ngoài mục đích tắm biển ra còn muốn tìm hiểu thêm về phong cảnh, con người và mua sắm một số đặc sản nào đó. Còn nếu như chỉ có tắm biển không thôi thì người ta sẽ không nhất thiết sẽ phải đến Phu-két. Ở Việt Nam, có khá nhiều điểm du lịch có một hai thế mạnh cùng với những khả năng tiềm ẩn khác, song dường như chúng ta chưa có ý thức khai thác tính đa dạng của nó. Vì nhiều lý do chúng ta thường chỉ đầu tư cho một thứ, và tại những địa điểm thường nằm tách rời nhau không thành một khâu liên hoàn tiện lợi cho sự đi lại của khách. Khâu yếu kém nhất có lẽ là cơ sở hạ tầng như đường sá, điện nước, vệ sinh và an ninh môi trường. Du khách đi chơi là để hưởng thụ chứ không phải để rèn luyện thể lực hay lòng kiên nhẫn, và nếu như chỉ có rèn luyện thì ngày nay người ta có thể làm việc đó tốt hơn nhiều chỉ trong bốn bức tường nơi ngôi nhà của họ. Bất cứ sự kiểm soát lộ liễu nào với những thủ tục rắc rối phiền hà đều có thể làm nản lòng du khách. Nếu chịu khó nghiên cứu và thay đổi cách làm cho phù hợp, ngành du lịch Việt Nam chắc chắn sẽ còn hấp dẫn hơn rất nhiều. Chúng ta hoàn toàn có thể biến vùng hồ Ba Bể thành một khu du lịch không chỉ có cảnh quan mà còn bơi lội, săn bắn, chế tác mỹ thuật và một nơi mua sắm. Đèo Hải Vân có thể trở thành một điểm du lịch tổng hợp thuận tiện để thu hút du khách bốn phương với một mức độ chi phí rẻ nhất vùng Đông Nam Á. Đó là chưa nói đến Vịnh Hạ Long, Đà Lạt, Ba Vì – Tam Đảo và nhiều điểm du lịch khác đã hoặc chưa được khai thác đều có thể trở thành những khu du lịch rất “ăn khách”. Đừng nghĩ rằng vốn đầu tư là tất cả bởi lẽ có tiền mà tiêu không đúng thì chỉ chuốc lấy sự phiền hà !. Có ít vốn thì làm nhỏ và “chậm chắc”, nhưng khi đã làm phải biết tính toán cho lâu dài, chớ bao giờ nghĩ rằng “tàm tạm, khi nào có điều kiện thì làm lại”, vì như vậy là một cách làm rất lãng phí và nhiều khu đưa lại những tác động tâm lý không tốt đối với du khách mà mãi về sau khó lấy lại cảm tình của họ.
Hà Li – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Viết từ bãi biển Phu-két – Phần 2

Thực ra cảnh vật trên hòn đảo này cũng tương tự như một số vùng ven biển và đảo ở nước ta, cũng rừng, cũng núi và bãi biển với những trận mưa rào nhiệt đới và ánh nắng chói chang mà ta không thiếu gì. Ngoài những yếu tố chung muôn thuở là “nhân hòa, địa lợi”, có lẽ nguyên nhân chính là cơ sở hạ tầng tuyệt vời của Phu-két. Tuy chỉ là một hòn đảo nhỏ Phu-két có một sân bay quốc tế lớn thứ hai Thái Lan với đầy đủ các thiết bị và tiện nghi của một sân bay hiện đại, đặc biệt là khách nước ngoài có thể làm thủ tục xuất – nhập cảnh ngay tại đây mà không nhất thiết phải qua thủ đô Băng – Cốc hay bất cứ một thành phố nào khác. Hệ thống đường xá chằng chịt đều được trải nhựa phẳng lì, với hệ thống báo hiệu giao thông và đèn chiếu sáng không khác gì tại các đô thị khiến cho cả hòn đảo không khác nào một thành phố lớn, nhưng cái hay là hai bên đường không san sát nhà cửa mà là những rừng cây, bãi cỏ, thỉnh thoảng cách quãng mới có những siêu thị, ngôi chùa cổ kính, hoặc một vài trạm xăng hay trạm dịch vụ nào đó, tất cả chỉ vừa đủ để làm thuận tiện và yên lòng cho du khách.
Ngồi xe dạo trên khắp nẻo đường của đảo ta có cảm giác như đi trong một miền đất êm đềm và thơ mộng, một thứ cảm giác khiến cho khách muốn sẽ quay lại với nơi này. Cứ thế, những con đường dẫn ta đến các bãi tắm, lên các đỉnh đồi và ra tận sát mép nước biển xung quanh hòn đảo. Các thứ ở đây dường như đã được hoạch định từ lâu trong một tổng thể hài hòa, thuận tiện, ít phải phá đi làm lại mà chỉ có tu bổ thêm vào cho hoàn thiện hơn. Được biết toàn bộ hệ thống hạ tầng đó đều được nhà nước đầu tư, tư nhân chỉ lo xây dựng các công trình kinh doanh của họ như các khách sạn, bãi tắm, nhà hàng. Có lẽ đó là một sự phân công hợp lý. Tình hình trật tự an ninh du lịch ở đảo này cũng rất tốt và là yếu tố then chốt góp phần vào thành công của hòn đảo du lịch này. Dĩ nhiên để có một nền nếp tốt như vậy hệ thống luật lệ ở đây phải nghiêm minh lắm, nhất là phải hợp lý và phù hợp với mong đợi của người dân địa phương lẫn du khách. Khách nước ngoài dù là quốc tịch nào đến đây đều có thể rất dễ dàng thuê mướn các loại phương tiện đi lại như xe gắn máy, xe ô-tô các loại với một giá rất phải chăng. Thuê một xe ô-tô con có điều hòa chỉ hết độ 400 bath, cộng với tiền xăng cũng chỉ hết 5-600 bath một ngày (tương đương 15 đô la Mỹ). Cảnh sát sẽ chẳng bao giờ nhũng nhiễu người thuê xe, trừ phi họ thực sự vi phạm luật lệ giao thông. Đỗ xe ở các nơi công cộng họ không phải trả tiền mà cũng không mấy khi xảy ra mất cắp. Ở mức sống của người dân xem ra vẫn còn thấp, có khá nhiều thanh niên “bán thất nghiệp”, song họ cũng không phải vì thế mà có những hành vi “xin đểu” đối với khách du lịch. Các cửa hàng tư nhân bày bán đủ thứ song đều có biển giá và ít khi thấy cảnh tranh cướp hay chửi bới ầm. Nói chuyện với một số khách châu u sang đây nghỉ mát, họ đều có chung một ấn tượng rằng người dân ở đây thật thà và mến khách. Các hàng hóa thường rất sẵn và khá đa dạng được bày bán ngay tại các khu chợ trên bãi biển. Rất nhiều trong số đó là hàng được làm tại địa phương và bằng những vật liệu địa phương như tre gỗ, vỏ sò, chim thú… Đồ ăn thức uống bên ngoài giá rất phải chăng so với giá khá cao tại các khách sạn, tạo cho du khách những sự lựa chọn cần thiết.
Hà Li – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Viết từ bãi biển Phu-két – Phần 1

Ngành công nghiệp không khói
Du lịch là một trong số ít những ngành kinh tế có lịch sử lâu đời nhất và cũng có tương lai lâu dài nhất, bởi lẽ nó gắn liền với nhu cầu cơ bản của con người, và nguồn nhiên liệu cho nó không bao giờ cạn kiệt. Khác với nhiều ngành sản xuất khác, có thể nói du lịch là ngành kinh tế của các ngành nghề vì nó phát triển là nhờ môi trường kinh tế – xã hội nhất định; từ hành chính, pháp lý đến dịch vụ bưu điện, giao thông, y tế cho đến các ngành sản xuất khác nhau đều đóng góp một cái gì đó cho ngành du lịch. Ngược lại, du lịch đưa lại vô số những lợi ích cho mọi người. Nhiều quốc gia trên thế giới đã tồn tại và phát triển nhờ vào du lịch. Ấy vậy mà, không phải lúc nào, ở đâu và ai cũng đều nhận thức đúng đắn về “ngành công nghiệp không khói” này để khai thác đầy đủ thế mạnh của nó.
Ở Việt Nam đã có thời chúng ta tràn trề hy vọng về tương lai của ngành du lịch một đất nước thống nhất. Cảm nhận chung lúc bấy giờ là hễ mở rộng cánh cửa là du khách ngoại quốc sẽ ùa vào vì đất nước ta vô cùng giàu đẹp và còn xa lạ đối với du khách ngoại quốc. Khi đó ít ai hình dung ra những gì cần thiết phải làm thêm nữa để hấp dẫn du khách. Thậm chí có người, có ngành còn lo du khách sẽ ùa vào quá nhiều và gây những phiền toái cho chúng ta. Cũng có những điều ngộ nhận khác, thậm chí mơ hồ nhần lẫn giữa nhu cầu hiếu kỳ của du khách với cái nghèo nàn, lạc hậu, những đồ đạc cũ kỹ, lỗi thời, và thô sơ. Cứ theo cách tư duy đó, chúng ta thấy mình có hàng loạt các “thế mạnh”, nhưng lại quên mất sự so sánh tương đối giữa chúng ta và thế giới bên ngoài và những gì mà du khách thực sự mong đợi. Chúng ta chưa thấy hết vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống hạ tầng cơ sở nói chung và giao thông nói riêng đối với việc phát triển du lịch. Nhìn các vị “khách ba lô” lần lượt tiến vào thăm Việt Nam, có người tưởng đó là một mô hình du lịch mới và thích hợp với ta. Cũng đã có thời “toàn dân làm du lịch” theo kiểu phong trào. Từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu vùng xa, dậy lên một trào lưu làm du lịch và không ít những câu chuyện “thật như đùa” đã diễn ra trong bối cảnh đó.
Nhìn sang các nước láng giềng
Ai có dịp đến một số khu du lịch nổi tiếng của các nước trong vùng Đông Nam Á, nơi có vùng thổ nhưỡng, khí hậu và cảnh quan như đất nước chúng ta, hẳn sẽ nhận ra một sự khác biệt khá nhiều về cách làm du lịch giữa họ và ta. Khu nghỉ mát và giải trí Gen-ting (của Ma-lai-xia), đảo du lịch tắm biển Ba-li (của In-đô-nê-xia) cũng như hàng chục các địa danh nổi tiếng khác trong vùng Đông Nam Á, về địa thế và cấu tạo tự nhiên, đều là những nơi có thể tìm thấy trên khắp các vùng lãnh thổ Việt Nam. Có lẽ không mấy ai chưa nghe tên Phu-két của Thái Lan, nơi hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch từ năm châu bốn biển, chưa kể hàng loạt các hội nghị, hội thảo quốc tế diễn ra tại đó. Điều gì khiến một hòn đảo nhỏ nằm cách xa thủ đô Băng-Cốc đến gần nghìn cây số lại trở nên có sức hấp dẫn to lớn đến vậy trong suốt hàng chục năm nay?
Hà Li – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

GMT giải mã từ RUT OF RAT Bàn về các loại hình du lịch

Bạn muốn nghỉ ngơi ư!- Hãy đến Torquay. Torquay là một trong những trung tâm nghỉ dưỡng nổi tiếng của nước Anh. Ở đây, có những phức hợp gồm các khu vui chơi, giải trí, thể thao, khách sạn, nhà hàng, khu cắm trại. Torquay có bờ biển đẹp, kéo dài với những bãi cát trắng, mịn màng. Bạn có thể đi bộ để ngắm phong cảnh kỳ ảo lúc hoàng hôn buông xuống. Nếu bạn yêu thể thao, xin hãy đến với sân golf, tennis, hay say mê với lướt vát trên biển, lặn biển để xem những dải san hô, hoặc thú vui câu cá. Ban đêm các rạp chiếu phim, nhà hát, sàn nhảy, quán bar, nhà hàng sẵn sàng chờ đón phục vụ bạn. Đối với trẻ em có sân chơi với đầy đủ các trò chơi mà chúng yêu thích.
Thủ đô của Italy là Rome, một trong những thành phố nổi tiếng của thế giới về lịch sử, nghệ thuật, văn hoá, tôn giáo và khoa học. Theo truyền thuyết, Rome được ROMMULUS xây dựng vào năm 753 trước công nguyên. Năm 1990, Giáo Hoàng Pius XII đã tổ chức năm thánh và Rome trở thành thủ đô tinh thần của đạo Catholicism. Năm 1960 Olympics được tổ chức ở Rome. Bạn có thể ở lại Rome cả tháng trời mà vẫn cảm thấy chưa chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp kỳ diệu và thần bí của Rome.
Nếu cảnh ồn ào nơi thành phố làm bạn mệt mỏi thì cách thư giãn êm ái nhất là đến với du lịch nghiên cứu, du lịch mạo hiểm, du lịch sinh thái… Nhằm vào những chủ đề khác nhau với những mối quan tâm đặc biệt, bạn có thể đi tìm hiểu về văn hoá, sinh thái, hay gặp gỡ đồng nghiệp. Bạn cũng cần chú ý rằng: du lịch mạo hiểm luôn có những thách thức về thể lực và tâm lý, leo núi, lặn sâu xuống biển, luồn lách vào các hang động, không chỉ có sự đam mê, hấp dẫn, mà còn đầy rủi ro và nguy hiểm. Trái với ham muốn tham quan thành phố, bạn có thể tham gia các hoạt động du lịch làng bản, nông trại, du lịch đi bộ, xe đạp, thả bộ quan sát đất trời và cộng đồng dân cư.
Du lịch ngày nay đã phát triển hết sức đa dạng, có nhiều loại hình du lịch, phù hợp với từng người, từng lứa tuổi, từng nơi.Chẳng hạn như du lịch đường thuỷ, du lịch thay đổi chỗ ở, du lịch cắm trại, du lịch tại các điểm dừng khi phải chờ đợi chuyển phương tiện giao thông, du lịch của thanh thiếu niên v.v…Có những hoạt động tưởng chừng không phải hoạt động du lịch, nhưng lại là động lực để thúc đẩy khách đi du lịch đó là: du lịch hành hương trở về cội nguồn (du lịch tín ngưỡng), du lịch công vụ, du lịch thăm thân, du lịch về với kỷ niệm xưa v.v…
Hiện nay đã có quá nhiều loại hình du lịch phát sinh nhằm thoả mãn nhu cầu của bạn, thường thì có 4 loại hình đặc trưng:
Khu, điểm du lịch tổng hợp (Resorts)
Du lịch thành phố (Urban Tourism)
Du lịch nghiên cứu và mạo hiểm (Reserch – Adventure Tourism)
Các loại hình khác (Other Fom)
Nhưng ở đâu có người thì ở đó có chất thải và kéo theo là sự sinh sôi của các sinh vật có hại, đặc biệt là loài chuột. Sự tương phản ấy nhắc nhở khách du lịch phải chú ý bảo vệ môi trường, môi sinh. Một khái niệm ngộ nghĩnh nhưng có tính nhắc nhở về môi trường, đồng thời cũng giúp ta dễ nhớ về các loại hình du lịch, đó là đoản ngữ “RUT OF RAT” nghĩa là “Hãy theo dấu chân của chuột”, chúng ta sẽ có các loại hình du lịch.
Đàm Viết Lọc – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Hà Nội “Thành lập ban tổ chức liên hoan du lịch Hà Nội 1999”

Ngày 3-8-1999 UBND thành phố Hà Nội đã có quyết định số 3149 QĐ – UB về việc thành lập ban tổ chức Liên hoan Du lịch Hà Nội 1999.
Ban tổ chức Liên hoan du lịch gồm các đồng chí sau:
Đ/c Lưu Minh Trị – Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội: Trưởng ban
Đ/c Nguyễn Quang Lân – Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội: Phó ban thường trực
Đ/c Nguyễn Viết Chức – Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Phó ban
Đ/c Phạm Ngọc Minh – Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam: Phó ban.
Đ/c Nguyễn Quốc Trung – Phó Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội: Phó ban
Đ/c Bùi Thu Nga – Phó Giám đố sở du lịch Hà Nội: Phó ban
Đ/c Nguyễn Hoàng Hưng – Phó Giám đốc Sở Thể dục Thể thao, Ủy viên
Đ/c Nguyễn Văn Khôi – Phó Giám đốc Sở Giao thông Công chính: Ủy viên
Đ/c Nguyễn Mạnh Hiển – Phó Giám đốc Sở Tài chính Vật giá: Ủy viên
Đ/c Nguyễn Văn Nhanh – Phó Giám đốc Công an Thành phố: Ủy viên
Đ/c Lê Quang Vượng – Phó Văn phòng UBND Thành phố: Ủy viên
Đ/c Nguyên Cao Mại – Giám đốc Công ty Công viên Cây xanh: Ủy viên.
Sở Du lịch Hà Nội là cơ quan thường trực giúp Ban tổ chức Liên hoan Du lịch Hà Nội 1999 phối hợp với các ngành triển khai kế hoạch, chương trình của Liên hoan Du lịch.
Bạn cần biết
Nguồn tài liệu phong phú cho cuộc thi “hẹn nhau” tại Trung Quốc năm 2000
Vừa qua, nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc tiến lên một bước trên tinh thần “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Quốc khánh Trung Hoa (1/10/1999) và 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (18/1/2000), Hội hữu nghị Việt – Trung đã phối hợp với Đại sứ quán CHND Trung Hoa tổ chức cuộc thi tìm hiểu về lịch sử, địa lý, văn hóa đất nước Trung Quốc tại Việt Nam. Cuộc thi có tên “Hẹn nhau tại Trung Quốc năm 2000” sẽ diễn ra từ ngày 10/7 – 10/10/1999 dành cho tất cả tầng lớp nhân dân, thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên. Cuộc thi sẽ có 66 giải thưởng: 5 giải nhất, 10 giải nhì, 20 giải ba, 30 giải tư và một giải đặc biệt gồm một tủ sách văn học Trung Quốc, một đĩa CD âm nhạc Trung Quốc, một chuyến du lịch Trung quốc 7 ngày vào đầu năm 2000. Bài thi sẽ được gửi tới 105A Quan Thánh, Hà Nội và được công bố kết quả vào ngày 25/10/1999.
Bài thi bao gồm 55 câu hỏi trả lời theo phương pháp trắc nghiệm trong đó có nội dung liên quan rất nhiều đến lịch sử, đất nước, con người, văn hóa, thể thao của Trung quốc. Những nội dung này báo Tuần Du Lịch đã nhiều lần đề cập đến và sắp tới sẽ có nhiều bài và ảnh giới thiệu tiếp để giúp các bạn có thêm tài liệu chi tiết và chính xác tham gia cuộc thi.
Câu hỏi cuộc thi
“Hẹn nhau tại Trung Quốc năm 2000”
Bao gồm 55 câu hỏi (mỗi câu trả lời đúng được 2 điểm, tổng cộng 110 điểm) mỗi câu hỏi chỉ có một kết quả đúng. Đề nghị điền ký hiệu câu trả lời đúng (a hay b,c…) vào ô trống sau mỗi câu hỏi.
Câu 1: Diện tích lục địa Trung Quốc là 9,6 triệu km 2, đứng hàng thứ (…) trên thế giới.
a/ thứ 2. b/ thứ 3 c/ thứ 4 d/ thứ 5
Câu 2: Lục địa Trung Quốc tiếp giáp với (…) nước
a/ 12 nước b/ 11 nước c/ 15 nước d/ 16 nước
Câu 3: Hòn đảo lớn nhất của Trung Quốc là (…)
a/ Đài Loan b/ Hải Nam c/ Sùng Minh d/ Châu Sơn
Câu 4: Thung lũng có địa thế cao nhất của Trung Quốc là (…)
a/ Ta-li-mu (Tháp Lý Mộc)
b/ Tứ Xuyên
c/ Zhun-ge-er (Chuẩn Cát Nhĩ)
d/ Chai-da-mu (Sài Đạt Mộc)
Câu 5: Trong số các động vật quý hiếm sau đây, những loại chỉ có ở Trung Quốc là (…)
a/ Gấu trúc (Panda), khỉ lông vàng, chim công đầu đỏ
b/ Gấu trúc, cá sấu Dương Tử, thú mỏ vịt
c/ Cá chiên Trung Hoa, cá heo trắng, khỉ đuôi dài
d/ Khỉ lông vàng, hà mã, con heo vòi.
Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Người đàn ông có 100 tỷ đô la

Người đàn ông giàu nhất thế giới đang ngày càng giàu hơn. Riêng giá cổ phiếu Microsoft tăng trong ngày 16 tháng 7 cũng đã làm cho ông Bill Gate giàu thêm 5 tỷ Đô la. Hiện nay ông là người duy nhất trên thế giới có số tài sản riêng gần 100 tỷ Đô la. Nếu so sánh thì ông cũng chỉ đứng sau gia đình Rockefellers.
Hôm 16/7, giá cổ phiếu Mircrosoft tăng 5,06 đô la lên 99,44 đô la. Vì thế giá trị của tập đoàn, do Bill Gate và bạn ông là Paul Allen thành lập năm 1975, là 507,5 tỷ Đô la, ai cách đây 13 năm bỏ 10.000 Đô la mua cổ phiếu của tập đoàn Microsoft thì ngày nay có số cổ phiếu trị giá 5 triệu Đô la.
Vì vậy Microsoft đã bỏ xa các tập đoàn công nghiệp khổng lồ của Hoa Kỳ: General Electric giá trị 388 tỷ, xếp hàng thứ hai, IBM, 250 tỷ xếp hàng thứ 3. Các tập đoàn công nghiệp lớn như General Motors hoặc Boeing chỉ đáng giá 44,8 tỷ Đô la. Ví thử Microsoft là một quốc gia thì đây là quốc gia có nền kinh tế xếp hàng thứ 9 của thế giới sau Tây Ban Nha với BIP là 553 tỷ Đô la.
Cũng như Rockefellers, Bill Gate là người thường dùng phần lớn tài sản của mình làm việc công ích. Tháng 6 vừa qua hai vợ chồng Gate đã hiến 5 tỷ đô la phục vụ sự nghiệp y tế và giáo dục.
Thu Trang
2.Du lịch với môi trường
Công ty Siam Safari được nhận giải môi trường Lá xanh PATA 1999
Năm 1999, Công ty Du lịch Siam Safari của Thái Lan đã được nhận giải Vàng của Hiệp hội PATA về thành tích phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn loài voi Thái Lan. Giải thưởng đã được trao cho ông Robert Greifenberg, người sáng lập ra công ty tại hội nghị PATA ở Nhật Bản. Với giải này PATA mong muốn tạo cho du khách và người dân nói chung trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có ý thức bảo vệ môi trường và tạo nên mô hình mẫu cho các công ty khác noi theo.
Du lịch ở Thái Lan được coi là một nguồn thu nhập quan trọng cho việc bảo tồn và phát triển đàn voi. Hiện nay ở Thái Lan có khoảng 5000 con voi. Từ năm 1998 Công ty Siam Safari đã cùng với Khách sạn Dusit Laguna resort lập dự án “Giúp đỡ Đàn Voi”. Dự án này là hình mẫu đầu tiên cho mô hình kết hợp giữa đơn vị tư nhân và nhà nước trong việc giúp đỡ và bảo vệ đàn voi Thái Lan.
TB-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Tổng cục du lịch chuẩn bị phương án tuần làm việc 40 giờ

Thực hiện công văn số 880/CP-VX ngày 20/8/1999 của Chính phủ về việc chuẩn bị thực hiện tuần làm việc 40 giờ, các Bộ, ngành, cơ quan đơn vị trong cả nước đã tích cực xây dựng phương án phù hợp với điều kiện của đơn vị mình nhằm triển khai thực hiện tốt chủ trương tuần làm việc 40 giờ.
Tổng cục Du lịch đã có văn bản số 908/TCDL-TCCB ngày 25/8/1999 yêu cầu các Vụ, đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp trực thuộc của đơn vị mình. Đến nay Vụ Tổ chức cán bộ đã tổng hợp, xây dựng phương án của Tổng cục Du lịch trình lãnh đạo Tổng cục để hoàn chỉnh trình Chính phủ.
Nhìn chung phương án tuần làm việc 40 giờ của các đơn vị, của ngành đều được xây dựng trên cơ sở phải đảm bảo yêu cầu làm việc bình thường với chát lượng tốt mà không tăng biên chế, không tăng quỹ lương. Trong đó có bổ sung chức năng, nhiệm vụ để phân công công việc tránh chồng chéo, trùng lắp. Riêng các doanh nghiệp có chức năng đặc thù riêng nên đã có phương án làm việc phục vụ tốt ngày nghỉ của nhân dân, để đảm bảo thu nhập của doanh nghiệp mà vẫn bố trí cán bộ, nhân viên nghỉ ngơi theo đúng chế độ hàng tuần.
Lâm Đồng: khẩn trương triển khai chương trình hành động quốc gia về du lịch
Tám tháng đầu năm 1999, Lâm Đồng đón trên 400 ngàn lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, hội thảo khoa học (riêng khách quốc tế chiếm 11,5%), thời gian lưu trú đạt 1,95 ngày/lượt khách. Hiện tại, ngành Du lịch địa phương đang khẩn trương nâng cấp cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực, phát triển một số sản phẩm du lịch nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình du lịch Quốc gia năm 2000. Với sự kiện “Đà Lạt – Thành phố hoa – Điểm hẹn năm 2000”, ngoài việc chú trọng loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao, hội thảo, du khách sẽ được tham dự một số lễ hội độc đáo, mới lạ như: Hội thác Pongour Hội cồng chiêng, hội Lirboong, hội đâm trâu, hội múa xòe của một số dân tộc bản địa và đặc biệt là Lễ hội hoa – lần đầu tiên được tổ chức ở Đà Lạt.
Đính chính
Do sơ suất của người viết, bài “Khách sạn Sài Gòn – Kim Liên: Sen vàng đang độ sơ khai”, in trang 5, báo Tuần Du Lịch số 35, mở đầu xin đọc lại là: “Khách sạn Sài Gòn – Kim Liên, liên doanh giữa ba đơn vị: Tổng công ty Du lịch Sài Gòn – Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) và Công ty Du lịch phương Đông (Nghệ An)…”
Thành thật xin lỗi Công ty Bảo Minh và bạn đọc.
TDL – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Ký ức mùa hè Tam Đảo_Phần 2

Những gì còn lại của các biệt thự thời Pháp ở Tam Đảo quả không nhiều lắm, ngoại trừ một thành cổ hay đúng hơn nó mang dáng dấp của một khu nhà thờ đá, nay được sử dụng làm hội trường, quán ăn và Câu lạc bộ karaoke. Đối diện với khu nhà thờ đá vuông là bể bơi ngoài trời có hình dáng của một chiếc đồng hồ cát với phần giữa rộng hơn hai đầu. Kế đó là một vọng lâu ban công nhỏ trên đỉnh một khu đồi gò – con đường này là một vực nước hình ô van sâu 60cm có rất nhiều mảnh vỡ vụn có lẽ do xây dựng một nhà khách gần đó. Khi tới sườn dốc đông của thị trấn Tam Đảo, những tàn dư của thời pháp dường như hiện ra rõ hơn. Các cổng đá nối với nhau mang đậm nét kiến trúc Pháp đứng sừng sững trước những lô đất trống mà theo người dân Tam Đảo đây là nơi các tòa thự do nhỏ thời pháp đã từng toạ lạc. Phần lớn mọi người gọi nơi này là “cổng trời”.
Con đường dốc tới đáy thác nước mà người Pháp gọi là “Thác Bạc” (Cascade d’Argent hay Uwaterfall of Silver) được xây bằng 300 bậc đá. Trước đây thác nước này đã từng mọc lên khách sạn vàng bạc còn giờ đây chỉ còn một nền đá nhấp nhô với các khe thoát nước từ trên đỉnh thác mát rượi dồn xuống tới tận phía dưới chân núi.
Qua lần lượt các di tích, Bà chúa thượng ngàn trên chặng đường dài 13km vượt dốc ngoằn nghèo khúc thủy đến đền Mẫu, đền Đức Thánh Trần rồi lên phần đất bằng phẳng nhưng nhấp nhô cao thấp – nơi tòa lạc của các khách sạn, nhà nghỉ, quán karaoke, thăm nhà sáng tác, chụp kiểu ảnh ở công viên, nhà dây thép Tam Đảo và ở cổng vòm thành cổ, chúng tôi bắt đầu đoạn cuối của cuộc hành trình leo tới đỉnh Thạch bàn có tháp truyền hình (nơi diễn ra các cuộc họp bàn của Việt Minh tuyên truyền giải phóng quân trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp). 300m độ cao lên đến nơi chúng tôi thật sửng sốt khi được nhìn toàn cảnh Tam Đảo, được hít khí trời mát mẻ và thả tâm hồn mình vào thiên nhiên tuyệt vời. Cảnh quan nhìn từ đây đẹp không gì tả xiết.
Tam Đảo giống như nhiều nơi khác: cũng có đặc sản riêng do chính người dân nơi đây làm ra: Măng tre mai (thứ măng ngâm dấm thái từ loại tre mai rất thơm là thứ nước chấm ngon: bánh cáy, bánh cu đơ, mè sửng… và nhiều thứ đặc sản khác khiến bạn sẽ không quên khi đến Tam Đảo dù một lần sẽ nhớ mãi và mong có dịp quay trở lại.
Trên đường về Hà Nội mỗi người trong số chúng tôi đều cảm thấy vui dù đã thấm mệt. Tôi nhớ những dòng chữ “Khu nghỉ Tam Đảo được giải phóng ngày 16/7/1945” tại cổng của căn nhà nay là công ty du lịch Tam Đảo dưới sự lãnh đạo của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân phối hợp với binh sĩ yêu nước, người tù nổi dậy và người dân Tam Đảo. Hẳn những gì đã mất và những tàn dư để lại từ thời pháp: 300 biệt thự giờ đây không ai được chiêm ngưỡng nhưng cùng thời gian cảnh quan Tam Đảo vẫn còn đẹp và vẫn mãi mãi huyền ảo, lãng mạn bên cạnh những nét hiện đại.
Phạm Mạnh Hùng – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999

Ký ức mùa hè Tam Đảo_Phần 1

Cách Hà Nội khoảng chừng 87 cây số về phía Tây Bắc, Tam Đảo được mệnh danh là Đà Lạt phương Bắc. Điều này cũng đủ lôi cuốn chúng tôi vượt chặng đường dài xa xôi từ thủ đô Hà Nội làm chuyến picnic thăm Tam Đảo. Đây là cơ hội tuyệt vời cho nhóm sáu đứa chúng tôi quên đi cái nóng bức của khí trời mùa hè Hà Nội, bỏ lại sau lưng những đường phố chật hẹp và quang cảnh ồn ã tiếng xe, hướng tâm hồn mình cho thiên cảnh núi non hùng vĩ.
Nhìn từ xa, giống như dãy tiền của các núi đá, dãy Tam Đảo nhô ra từ một vùng đất bằng phẳng có độ cao tới 1200m so với mặt nước biển. Phải mất hơn hai tiếng đồng hồ từ Hà Nội chúng tôi mới tới được chiếc cổng nhỏ đề “Kính chào quý khách tới thăm Tam Đảo”. Tại đây có nơi thu vé thăm quan. Quanh đó là các xe đủ loại: coaster, xe car, xe buýt đang đứng đợi khách. Đi qua chiếc cổng nhỏ này chúng tôi hiểu rằng đã đến lúc bắt đầu chặng đường vượt dốc dài chừng 13km. Càng leo cao nhiệt độ càng giảm dần. Cùng chặng đường với chúng tôi còn có các xe du lịch và một đội ngũ xe ôm lái những chiếc xe min-khơ xanh đỏ nối đuôi nhau cùng vượt dốc. Mỗi đoạn ngoặt dốc đến rợn người đem lại cảm giác thót tim đổi lại chúng tôi được ngắm nhìn cảnh thung lũng phía dưới đẹp mê hồn. Còn khoảng 1/3 chặng đường nhóm chúng tôi bắt đầu nhìn thấy thấp thoáng phía trên các vila, biệt thự xanh đỏ tím vàng (nói quả không ngoa nhưng có lẽ còn có nhiều màu hơn nữa hay chỉ là ảo giác).
Vào ngày chủ nhật xe lên Tam Đảo có ít hơn nhưng luôn có các xe vận chuyển nhu yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt của du khách đến tham quan Tam Đảo. Khoảng 30 phút sau vài lần dừng nghỉ để đổ nước làm mát máy xe (chúng tôi học được kinh nghiệm này khi quan sát các chủ xe min-khơ chở khách thuê ở mỗi trạm). Xa xa âm thanh dòng suối núi chảy róc rách. Cánh rừng thông chạy suốt chặng đường dốc đổ dần xuống khi xe của nhóm chúng tôi lên được tới bãi gửi xe Tam Đảo. Bỏ lại những lớp mây mù và cánh rừng thông chúng tôi bắt đầu chặng thứ hai của cuộc hành trình chinh phục Tam Đảo. Từ đây chúng tôi có thể nhìn thấy tháp truyền hình được bao bọc xung quanh bởi làn sương mây mù mỏng tang trong suốt. Nơi chúng tôi đứng cao 900m và như vậy sẽ phải leo thêm 300 – 400m nữa mới lên được tới đỉnh nơi đặt tháp truyền hình. Có thể thấy rõ ở mặt tây của thị trấn Tam Đảo là các khách sạn và nhà nghỉ, còn mặt dốc Đông của thị trấn là các quán karaoke nối tiếp nhau mọc cao có thấp có, lưng chừng có. Theo ban quản lý khu di tích Tam Đảo, có tới hơn 100 nhà nghỉ, khách sạn. Còn số nhà hàng cũng phải bằng chừng đấy. So với biệt thự và nhà hàng của thời Pháp thì vẫn còn kém xa nhưng dẫu sao đây cũng là một con số đáng nói.
Phạm Mạnh Hùng – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999