Cuồng ẩn sĩ trên núi Thiên Nhẫn

Ông có rất nhiều tên để gọi. Ông tự gọi mình là Lạp Phong cư sĩ, là Hạnh Am cư sĩ và Cuồng ẩn sĩ. Người đời gọi ông là Lục Niên hầu (mặc dù ông không hề được phong tăng tước hầu bao giờ), là La Giang phu tử (người đàn ông bên sông LA). Hoàng Đế Quang Trung thì gọi ông là La Sơn phu tử. Có lẽ số phận ông gắn bó mật thiết với người anh hùng dân tộc áo vải cờ đào nên sử sách và con cháu đời nay biết ông với cái tên do vua gọi ấy.
La Sơn phu tử sinh năm 1723 tại xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 19 tuổi ông theo chú là Nguyễn Hành ra Hải Dương ăn học và được Hoàng giáp Nguyễn Nhiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du) kèm cặp, dạy bảo. Chú mất, ông đau buồn đi lang thang rồi nhờ thiên hạ giúp đỡ, cuối cùng cũng lần được về nhà. Rồi đậu Giải khoa Quý Hợi (1743) đời vua Lê Cảnh Hưng. Nhưng ông vẫn một mực không chịu tiếp tục thi Hội (để lấy Trạng nguyên hay Tiến sĩ). Ông nói với thầy: “Con chỉ vì không có bụng với hoàng thạch (hoạn lộ) mà thôi”. Như vậy là từ năm 21 tuổi, Nguyễn Thiếp đã nhìn rõ thời cuộc tao loạn, nhà chúa lấn át nhà vua, nông dân vùng dậy vì đói khổ, ly tán. Liệu có thể đưa tâm huyết kẻ sĩ ra mà cứu đời trong hoàn cảnh ấy không ? Nguyễn Thiếp đã chọn không. Và ông rời đương quan lộ, dấn thân vào chính cuộc sống thực của nhân dân, như ông tự nhận trong Hạnh Am ký: “Bỏ khoa cử, chuyên đọc sách và tìm tòi nơi non xanh nước biếc mà đi. Dấu chân để lại khắp đất Nam châu”. Thơ của ông: “Nghĩa còn đỉnh hoặc thơm tho – Đạo suy ẩn với giang hồ cũng thanh – Mặc ai cái bệnh đua ganh – Sông Nghi tắm mát, xuân quanh bốn mùa” (Hoàng Xuân Hãn dịch). Cái chí giang hồ, ẩn cư ấy thấm đẫm linh hồn của sông Lam núi Hồng, rèn dũa trong ông tâm thế của một lữ khách tuy không xuất, không xử như thường tình nhưng vẫn ưu thời mẫn thế. Chính vì vậy mà khi đất nước bị xâm lăng, ông mới có được cái tầm nhìn của nhà chiến lược khi hơn ba mươi năm sau, khuyên vua Quang Trung hãy thần tốc trong chiến dịch “mùa xuân đại thắng” năm Kỷ Dậu: “Nếu đánh gấp thì không quá mười ngày sẽ phá tan giặc”.
Tuy vậy, sau nhiều năm giang hồ, năm Bính Tý (1756) con người tự nhận là “Cuồng ẩn sĩ” ấy cũng vì sinh kế, vì thời thế mà ra nhận một chức quan còm: huấn đạo Anh Sơn. Sau mấy năm làm huấn đạo, rồi tri huyện Thanh Giang, sẵn đất Bùi Phong trên núi Thiên Nhẫn, năm 46 tuổi, Nguyễn Thiếp lại trở về cuộc đời ẩn sĩ. Trong Hạnh Am ký, ông mô tả trại Bùi Phong của mình: “có ghềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu. Núi trồng được cây, khe đánh được cá, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ nuôi, bệnh mười phần giảm được tám chín. Đến lúc các con lớn khôn, bảo chúng cùng lên, mới chỉnh lý lại một phen cho rồi việc. Nuôi trâu bò, trồng cây, cày ruộng, dệt vải đều làm lấy mà ăn…”. Đây là thời gian Bùi Phong cư sĩ Nguyễn Thiếp nổi tiếng xa gần. Cũng như Hội Am, một làng hẻo lánh bên sông Văn Úc đã từng trở thành một trung tâm văn hóa nhờ bóng cả Nguyễn Bỉnh Khiêm, trại Bùi Phong nổi tiếng đương thời nhờ cư sĩ Nguyễn Thiếp. Nhiều nhân vật văn hóa thư từ, đến tận nơi đàm đạo với ẩn sĩ. Năm Canh Tý (1780) chúa Trịnh Sâm lại gọi ông ra, muốn dùng ông để thêm vây cánh lấn át vua Lê. Hai người khác nhau quan điểm nên ông không được Chúa dùng. Năm 61 tuổi (1783) ông soạn thảo cuốn hồi ký Hạnh Am thi của gồm các bài văn, bài thơ viết về cuộc đời mình. Nhưng không chỉ là hồi ký. Trong tác phẩm giá trị này ông đã bày tỏ ý ông, chí ông, nỗi ưu thời mẫn thế của ông với người đương thời và hậu thế.
Thế rồi, bắt đầu sự gắn bó với vua Quang Trung. Nguyễn Huệ đã ba lần “tam cố thảo lư” mời ông ra giúp giập nhưng cả ba lần ông đều thác bệnh mà từ chối. “Nay thiên hạ khốn khổ, không cùng phu tử cứu gỡ thì không biết cùng ai….” Lần thứ ba ông miễn cưỡng xuống núi gặp vua, tuy ông vẫn cáo từ chức tước, chỉ nhận giúp nhà vua tìm đất dựng đô mới mà thôi. Cuối năm, khi 20 vạn quân Thanh còn đóng chiếm Thăng Long, vừa lên ngôi Hoàng Đế ngày 25, ngày 29 vua Quang Trung kéo quân đến Nghệ An. Nhà vua mời La Sơn phu tử đến hỏi việc nước. Ông đã nhận định thế chiến lược của việc đuổi giặc, đưa ra lời khuyên thần tốc kể trên. Nguyễn Huệ mừng, trả lời: “Phu tử nói rất hợp ý tôi”. Đánh thắng giặc trở về, giữa Nguyễn Huệ và La Sơn phu tử đã có một tình thâm giao tri kỷ giữa anh hùng với lữ khách. Nhà vua cấp bổng lộc cho ông, ép mãi ông mới nhận. Ông vào Phú Xuân dâng tấu bàn về quân đức, nhân tâm và học pháp, đại khái nói về cái đức lớn, gương mẫu của vua hiền, dân vững tâm thì nước mới yên và cuối cùng, việc học hành phải được coi trọng, phải được cải tiến. Ông chỉ ở lại mười ngày rồi về núi cũ. Vua Quang Trung đành đồng ý cho ông vừa làm sơn nhân vừa đem sở học ra giúp đỡ nhà vua.
Chỉ ba tháng sau khi vua Quang Trung mất, La Sơn phu tử trả hết bổng lộc, trở về cuộc sống nghèo túng trong trại Bùi Phong trên núi Thiên Nhẫn. Vua Quang Toàn nguy cấp triệu ông vào kinh xin ý kiến. Ông bị mắc kẹt ở đó khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân. Rồi triệu ông đến chuyện trò có ý trách về việc ông giúp Nguyễn Huệ. Nhưng cuối cùng vẫn sai người đưa ông về quê nhà, nói: “Người hiền nên kính trọng, người già nên để cho người ta yên”.
Nguyễn Thiếp mất đầu năm 1804, thọ 81 tuổi. Ông không phải nhà thơ lớn, cũng không là nhà cầm quân hay chính khách có quyền lực thật sự. Ông để lại cho đời sau một khuôn mặt không thể phai mờ về nhân cách sống, một nhân phẩm và một tấm lòng yêu nước thương dân mà không màng danh lợi, không sợ uy vũ.
Song Ân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Bảo tồn văn hóa phi vật thể – Hò Cần Thơ “những người đi tìm ngọc”

“Có trăng thì phụ lòng đèn / Ba mươi mùng một đi tìm lấy trăng”, câu ca dao sao day dứt như lời trách móc. Các cụ kể rằng ngày trước người ở xứ khác đã phải lặn lội đến tận Cái Tắc để học khúc hát ru, những điệu hò của đất Cần Thơ. Đến nay, nhiều người lại giật mình tự hỏi đâu rồi những khúc hát xưa ?
Những khúc hát xưa: “Hò…ơ…ơ…ơ… chớ Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền / Anh có thương em thì anh nên cho bạc cho tiền chớ đừng cho lúa gạo / Hò…ơ…ơ…ơ… chớ xóm giềng họ cười chê…ơ…”. Cũng điệu hò huê tình này nhiều khi họ chỉ cần thay mấy từ “Anh có thương em thì sắm chiếc vòng vàng chớ….” hoặc “….Anh có thương em thì sắm một con đò / Để anh lên xuống mua cò (tem) gởi thơ”. Câu chữ có thể phóng khoáng thay đổi cho hợp cảnh hợp thời nhưng cái tình phải rõ, phải chặt. Người con gái không cần vật chất đơn thuần (họ chẳng giãi bày xứ này ê chề lúa gạo đó sao) mà họ cần cái duyên phải sao cho cụ thể. Thế mới hay thuở trước các cụ giao duyên, nhắn gửi cho nhau mùi lắm, tình lắm, hôm nay nghe lại bao người vẫn xốn xao tâm trạng.
Các điệu hò cũng như những làn điệu dân ca xuất hiện từ thời cha ông đi khai hoang mở đất (vạn cấy, vạn chài…), là sản phẩm này sinh ra từ trái tim người lao động trong bối cảnh giữa đồng ruộng mênh mông bát ngát còn thơm tho mùi rạ đất, những đêm trăng sáng vằng vặc treo giữa miền quê hay đang lẻ loi một mình một bóng một mái chèo lênh đênh trên sông rạch rong ruổi theo dấu đèn dầu leo lét của bạn chài phía trước….Hò đã khiến họ cảm thông hơn, gắn kết nhau hơn và cũng tạo thêm sức mạnh cộng đồng trước bộn bề cuộc sống. Hò cũng như một số loại hình âm nhạc dân gian khác tuy ngôn từ câu chữ rất “bình dân” những vẫn thanh thoát uyển chuyển, thấm được tình ý chân thành, vừa gợi hình vừa giàu tính nhân cách hóa, ngồn ngộn điển tích. Và rõ ràng hò không chỉ đơn thuần là kết nối nhân duyên “bắt xác” bạn đời bạn tình, xẻ chia nhọc nhằn gian khó, chuyên chở nỗi niềm tâm tư ước vọng, cách đối nhân xử thế ở đời….mà còn ẩn chứa nghĩa tình đạo lý thật sâu đậm với thiên nhiên – mảnh đất mình đang đứng, với con người mình đang sống, với Tổ quốc và cộng đồng cùng sự quật cường tranh đấu bất khuất trước bạo tàn cường quyền.
Những người đi tìm ngọc: trên “giấy trắng mực đen” thì dự án “Bảo tồn văn hóa phi vật thể Hò Cần Thơ” mới được bộ phận bảo tồn của ngành văn hóa thể thao Cần Thơ chính thức triển khai từ ngày 01/04/1998 nhưng thực ra Cần Thơ đã có ý thức bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể này từ nhiều năm nay. Cái mốc quan trọng nhất chắc là vào năm những năm thập niên 80, dưới thời của “ba ông Giám đốc” Huỳnh Thương, Hai Ớt (đồng chí Võ Hồng Quang, nay là thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao), Ngô Hồng Khanh khi các ông mời vợ chồng Nhạc sĩ – Nhà thơ và sưu tầm dân ca Lư Nhất Vũ – Lê Giang, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hoa, nhạc sĩ Minh Luân cùng một số người am hiểu khác về Cần Thơ rồi cùng họ lặn lội “quần nát” nỗi mong mỏi của người dân nơi đây và đó chính là trách nhiệm của cơ quan chức năng địa phương trong việc tổ chức phát động nhạc sĩ mọi miền tham gia chọc lọc, phóng tác, biên soạn, dàn dựng….Sau khi dự án đã được kiểm nghiệm ngành Văn hóa Thể thao phối hợp với ngành Du lịch, Hội Hữu Nghị các nước, Sở Giáo dục – Đào tạo….tuyển chọn phổ biến đưa “Hò Cần Thơ” vào chương trình giáo dục từ cấp tiểu học; in; phát hành băng cassette, video, CD-ROM….về hò Cần Thơ làm quà biếu các đoàn khách quốc tế, Việt kiều về thăm quê; chọn những giai điệu hay đưa vào chương trình những lễ hội chính thức, các buổi chiêu đãi, các nhà hàng khách sạn, dịch vụ du lịch….Đã từng có hò Huế trên sông Hương trong tour du lịch vậy tại sao không có hò Cần Thơ trên sông Hậu ? v.v….
Vũ Thống Nhất – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Thăm lại miền Trung

Bạn tôi xa xứ lâu năm, nay trở về thăm quê, tâm sự: Về Việt Nam thích nhất là được ăn các thứ bánh gói lá của quê mình. Mùi lá chuối hấp chín, mùi nếp cộng cùng với nhân bánh và các loại gia vị thơm phức đọng lại trong ký ức của bao người. Bánh lá quê phong phú vô cùng nhưng mộc mạc, dễ nhớ, dễ làm và cũng đã từng có trong thực đơn của những bữa tiệc sang trọng. Ấn tượng nhất phải kể đến bánh tét bởi chất quê và nét cổ truyền của món bánh này. Với nguyên liệu là những thứ sẵn có của nhà nông gạo nếp thịt heo, đậu xanh, hành mỡ, lá chuối thì ở quê tôi nhà nào cũng có, nhất là mỗi dịp xuân về, con cháu đông vui. In đậm trong ký ức của những người đi xa xứ có lẽ là những kỷ niệm vui buồn bên nồi bánh tét, cùng gia đình, họ hàng, bà con và bạn bè ôn lại chuyện năm cũ, bàn chuyện năm mới. Rất nhiều cảm xúc đã được ghi lại trong các chuyện, ký, thơ để rồi làm rơi nước mắt của những kẻ xa nhà, nhớ quê. Bánh tét miền Nam cũng như bánh chưng miền Bắc không thể thiếu trên bàn thờ ông bà trong những ngày Tết. Cũng nguyên liệu như vậy nhưng bánh được gói thành 3 góc, to hơn nắm tay gọi là bánh ú. Trước đây, bánh ú được gói dùng trong ngày giỗ chạp, ngày tết nhưng nay thì bánh được bán khắp nơi, là thức ăn sáng tiện lợi, hợp vệ sinh và hợp túi tiền của nhiều người. Những ngày gian khó ở quê, khi gạo nếp khan hiếm thì nguyên liệu làm bánh ú là bột sắn tươi, nhân đậu đen cũng ngon và đậm đà không kém bánh nếp. Bột gạo xay mịn gói thành hình chữ nhật, nhân làm bằng thịt, tôm băm nhỏ gọi là bánh lá hay bánh nậm. Công ty Khách sạn Hương Giang – Huế đã giành huy chương vàng tại Hội thi các món ăn dân tộc Việt Nam do Tổng cục Du lịch tổ chức với món bánh lá chả tôm. Bột nếp nhồi kỹ, vo tròn, bọc nhân tôm hoặc thịt nạc hấp chín gọi là bánh ít lạc, còn trộn với đường đen rồi quét với lá gai gọi là bánh ít lá gai. Bánh ít Hội An là đặc sản của phố cổ, ai đến Hội An cũng mua vài chục bánh ít về làm quà. Cũng với nguyên liệu bột nếp trộn nước đường đổ lên lá chuối được gấp thành tổ to hơn tổ chim gọi là bánh tổ. Bánh tổ cũng là loại bánh không thể thiếu trong ngày Tết của người dân miền Trung. Bánh su se hay bánh phu thê là đặc sản của xứ Huế. Sở dĩ gọi là bánh phu thê và được dùng trong lễ cưới, hỏi vì bánh làm bằng bột sắn trong suốt, dính chặt vào nhau tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng gắn bó. Bánh su sê được gói bằng lá dứa, vuông vắn trong rất đẹp mắt. Ngày 5 tháng 5 âm lịc người ta thường gói bánh ú tro, miền Bắc gọi là bánh gio, nguyên liệu là gạo nếp ngâm nước tro. Bánh không có nhân, chỉ nhỏ vừa miệng ăn, được buộc thành từng chùm. Bánh ú tro thường được ăn với đường cát trắng hoặc mật ong. Bánh bột lọc nhân tôm cũng hấp dẫn và là món quà chiều của phụ nữ mọi lứa tuổi. Ở Huế hay Đà Nẵng bạn đều có thể tìm đến những quán bánh lá các loại nóng hổi sẵn sàng mời chào bạn. Ngày này khi dịch vụ lan đến mọi nhà, phụ nữ thường mua sẵn ở chợ các loại bánh lá, các thú giã nếp, nhồi bột, gói bánh và ngồi chờ nồi bánh hấp chín không còn nữa nhưng trong tâm tưởng mỗi người ký ức về một nồi bánh tét ngày Tết, niềm vui được xách giỏ bánh đi biếu ông bà trong ngày giỗ, Tết là hạnh phúc thiêng liêng của mọi trẻ thơ mà trong suốt cả cuộc đời không ai có thể quên được.
Dương Thị Thơ -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Du lịch Vĩnh Phúc khởi sắc trước thềm thế kỷ

Vừa hình thành được 3 năm bên cạnh các ngành kinh tế của tỉnh, ngành Du lịch đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế. 3 năm quả là thời gian quá ngắn ngủi cho các nhà du lịch hoạch định chiến lược phát triển. Với thế mạnh có nhiều danh thắng được thiên nhiên ưu đãi, từ lâu các khu du lịch trên địa bàn tỉnh đã nổi tiếng như khu nghỉ mát Tam Đảo, Tây Thiên, hồ Đại Lải hay các di tích lịch sử như đền thờ Hai Bà Trưng, đền Bà Chúa Liễu… Để phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái, văn hóa lịch sử, ngay từ đầu năm 1999, phòng Du lịch thuộc Sở Thương mại và Du lịch Vĩnh Phúc đã có kế hoạch khảo sát các tuor du lịch trên địa bàn tỉnh, xây dựng chương trình phát triển du lịch Vĩnh Phúc đến năm 2020. Tam Đảo cũng là 1 trong 3 điểm danh thắng được Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm đầu tư nâng cấp. Chỉ tính riêng năm 1999 Ủy ban nhân dân tỉnh đã đầu tư 2,3 tỷ đồng để nâng cấp 12,3 km đường bộ từ thị trấn Vĩnh Yên đến trung tâm khu nghỉ mát. Theo như lời ông Khổng Ngọc Hà – Trưởng phòng Du lịch tỉnh cho biết: Trước đây cơ sở hạ tầng của Tam Đảo còn nhiều hạn chế. Điện lưới, nguồn nước sạch không có và nhất là đường giao thông không đảm bảo để đưa đón du khách tới tham quan. Đến nay, bộ mặt mới của khu nghỉ mát đã được đổi thay. Các cơ sở vật chất đã tương đối đi vào hoàn thiện. Đường điện 3 pha và nguồn nước sạch đã đảm bảo nhu cầu cho 560 phòng nghỉ của 28 khách sạn hoạt động. Đã có khách sạn 2 sao đạt tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế. Tính riêng năm 1999, Tam Đảo đã đón được 2 trăm nghìn lượt khách đến nghỉ dưỡng. Do được đầu tư tốt về cơ sở hạ tầng nên lượng khách đến với Tam Đảo ngày một tăng. Tất nhiên, bên cạnh việc nâng cấp dịch vụ cho du khách, một điều có lẽ là một thế mạnh có thể thu hút khách là Tam Đảo ở trên độ cao hơn 1 nghìn mét so với mặt biển, một năm Tam Đảo có 6 tháng sương mù, chính vì vậy khí hậu ở đây luôn ôn hòa, mát mẻ. Mặc dù đang trong những ngày nóng nực của mùa hè nhưng về đến Tam Đảo lại vô cùng thú vị. Ban ngày du khách có thể đi tham quan danh thắng như khu rừng quốc gia, Thác Đá Bạc, đền thờ Bà Chúa Liễu hoặc có thể thử sức leo hơn 1 nghìn bậc đá thăm tháp truyền hình… Còn tối đến, thời tiết lại se lạnh, các nhà du lịch thường tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa như lửa trại, văn nghệ, thưởng thức các món ẩm thực của núi rừng… Để đảm bảo phục vụ du khách, một năm qua tỉnh đã chú trọng đầu tư hoàn tất các cơ sở lưu trú, nâng cấp các công trình điện nước, các khu du lịch, lượng khách đến với Vĩnh Phúc ngày một tăng. Tổng doanh thu từ du lịch quý I năm 2000 tăng 15% so với cùng kỳ năm 1999. Không dừng lại ở đó sau một năm xây dựng các kế hoạch, đến nay phòng Du lịch Vĩnh Phúc đã hoàn thiện xây dựng quy hoạch chi tiết các khu du lịch, điểm du lịch trên cơ sở quy hoạch tổng thể của tỉnh. Theo lời ông Trần Dũng giám đốc Sở Thương mại và Du lịch Vĩnh Phúc cho biết làm du lịch mà chỉ biết đến tiềm năng đó thành sản phẩm du lịch thì thật lãng phí. Thời gian tới chúng tôi tiếp tục xin đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các khu du lịch trọng điểm, và điều quan trọng là tổ chức bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho cán bộ làm công tác du lịch. Cũng thật dễ hiểu khi ngay trên địa bàn quản lý mới một tiềm năng dồi dào như vậy mà chưa biết cách để khai thác thì quả là một điều đáng tiếc. Nhưng với những bước đi vừa qua của ngành Du lịch tỉnh, tương lai Vĩnh Phúc sẽ là một điểm du lịch hấp dẫn không chỉ dành cho du khách trong nước mà còn cho du khách quốc tế.
Sỹ Hào -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Núi Voi, Hà Nam

Trên đường tới thăm danh lam thắng cảnh Chùa Hương, qua Hà Nam ở địa phận xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng bằng đường bộ hay đường thủy, du khách không khỏi bàng hoàng trước phong cảnh thơ mộng mà thiên nhiên đã ban tặng riêng cho miền quê này. Núi sông, khe suối, hồ vực, hang động quy tụ về đây tạo nên bức tranh thủy mặc, từng được người xưa ghi chép lại trong sách “Đại Nam nhất thống chí” và coi là “Bát cảnh tiên”, sánh ngang với cảnh Tiêu Tương (Trung Quốc).
Một thắng cảnh trong hệ thống “Bát cảnh tiên” đã và đang trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách muôn phương, đó là núi Voi (còn gọi là núi Tượng hay Tượng Sơn). Núi Voi cao khoảng 200m so với mặt nước biển, có dáng hình như một chú voi quỳ khổng lồ quay đầu về phía Bắc. Ngọn núi này nằm ở vị trí địa đầu tiếp giáp với tỉnh Hà Tây, cửa ngõ đi vào Chùa Hương, lại có đường giao thông thủy, bộ chạy ngang qua (sông Đáy và quốc lộ 22) nên được nhiều người ghé thăm. Vào mùa hè nóng nực, du khách sau khi nghỉ mát ở biển, thì du lịch qua miền Sơn Cước này cũng là điều thú vị bổ ích.
Từ quốc lộ 22 rẽ vào con đường rải đá răm ngoằn ngoèo để lên núi, du khách gặp ngay cảnh hùng vĩ của núi rừng trùng điệp soi mình xuống mặt nước trong xanh rộng khoảng 70 mẫu. Không gian trong những ngày đẹp trời đầy nắng và gió đượm mùi hương thơm ngát tỏa ra từ ngôi đền Tiên Ông ở lưng chừng núi. Đường lên đền rộng rãi, được xây thành bậc rợp bóng những cây tùng.
Khi leo hết 108 bậc thang xây bằng gạch và đá, ngôi đền hiện ra trầm mặc trong khói hương, âm thanh chuông đến vang vọng giữa đất trời. Từ đây du khách có thể phóng tầm mắt hướng về phía Đông Bắc, ngắm dải núi đất Đọi Sơn hoặc chiêm ngưỡng con đường 22 chạy ngang như một dải lụa trắng vắt ngang những xóm làng bình yên giữa đồng lúa chín vàng. Đền từng được mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhất từ” được xây dựng vào đời vua Trần Nhân Tông (1279 – 1923), thờ đức thánh Tiên Ông húy là Nguyễn Mãn Nguyện, cha vốn là người họ Nguyễn quê ở Từ Sơn (Bắc Ninh), được phong tướng quốc Công ở triều nhà Trần. Đền Tiên Ông rất linh thiêng bởi truyền thuyết địa phương có nói Bảng nhãn Lê Quí Đôn và Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (người Hậu Lê) đều là con cầu tự ở đền này, cho đến nay vẫn được nhân dân địa phương cúng tế. Hàng năm, vào dịp mở lễ hội (15 tháng 6 âm lịch), dân thập phương về đây lễ bái cầu nguyện trước cửa đền rất đông. Công trình kiến trúc đền Tiên Ông gồm có 3 tòa: tiền đường, cung đệ nhị và Hậu cung. Tòa tiền đường được thiết kế chồng diêm 8 mái với những góc đao cong vút, mềm mại, trang trí đề tài phượng chầu càng tô đậm thêm vẻ cổ kính của ngôi đền. Trong đền có nhiều câu đối, đại tự ca ngợi công đức của thánh Tiên Ông cùng nhiều đồ thờ có giá trị văn hóa….
Đi sâu vào trong núi, du khách còn bị bất ngờ trước vẻ đẹp độc đáo, lạ thường của thiên nhiên. Ở bình độ cao chừng 40 đến 50 m, giữa 3 bề là núi, tạo thế như một chiếc ngai quay hướng Đông Nam, phía dưới là một hồ nước khá rộng nổi lên những hòn núi nhỏ như một Hạ Long trên cạn. Tại đây ngày trước còn có một ngôi chùa trăm gian, trăm phật như tòa lâu đài mọc giữa núi rừng, đó là chùa Tam Giáo, nơi tu hành đắc đạo của thánh Tiên Ông. Ngày nay, chùa không còn được như xưa bởi chiến tranh và sự bào mòn của thời gian. Vào mùa nước, suối thành thác tung bọt trắng xóa tuôn xuống mặt hồ. Nước suối mùa đông ấm, mùa hè lại mát rượi. Du khách sau khi thăm cảnh và lễ phật được tắm nước suối nơi đây chắc sẽ như cảm thấy mình thắm đượm sự tinh túy của đất trời và hương hoa núi rừng.
Chưa hết, du khách có thể lên chơi ở hang Dơi, nghe Dơi vỗ cánh tựa như khúc nhạc thiên nhiên rất vui tai….rồi vào hàng Xi xuyên qua ngang núi để ngắm nhìn thỏa thích từng đàn cá nheo, cá chép bơi lội dưới làn nước trong xanh.
Chiều về, du khách được nghỉ bên hồ nước dưới chân núi Voi (còn gọi là vực chùa Ông). Từng làn gió nồm nam thổi tới, mặt hồ gợn sóng làm cho du khách thảnh thơi và giữ mãi trong lòng những kỷ niệm sâu sắc về một vùng quê miền Sơn Cước này.
Núi Voi thực sự gợi mở cho du lịch sinh thái và du lịch văn hóa của Hà Nam phát triển mà vẫn bảo tồn được nét đặc thù của quê hương.
Trương Minh Tuấn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Vì sao đội thi hành án làm trái pháp luật ?

Việc phát mại tài sản đã hoàn tất mà Đội thi hành án chỉ có ý định trả Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình 89 triệu, số lãi là 37.977.733 đồng Đội thi hành án định đánh bài “lờ” ? Và hiển nhiên Đội thi hành án thị xã Ninh Bình đã cố tình không thực hiện quyết định của Tòa án đã tuyên tại bản án DSPT số 34 ngày 19/10/1998.
Theo công văn số 3 của Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình gửi Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình, để thi hành bản án kịp thời, Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình đã chi tiền để Đội thi hành án tiến hành việc họp, kê biên tài sản theo đề nghị tạm ứng của Đội thi hành án. Bà Nguyễn Thị Huệ cho biết đã 2 lần tạm ứng của Đội thi hành án. Bà Nguyễn Thị Huệ cho biết đã 2 lần tạm ứng với tổng số 3.750.000 đồng. Số tiền này lẽ ra Ngân hàng thương mại nông thôn Ninh Bình không phải chịu, nhưng nay vẫn chưa được trả lại.
Nói là mượn tờ giấy thế chấp tài sản để cho người mua xem, nhưng thực chất lại sử dụng vào việc trao đổi mua bán tài sản đã kê biên và đề nghị Ủy ban nhân dân phường, phòng địa chính, thị xã cấp giấy phép cho ông Thực bà Giang bán nhà là sự dối trá không thể chấp nhận được. Theo ông Nguyễn Danh Hào, Chánh thanh tra Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Ninh Bình thì đây là hành vi lừa đảo của Đội thi hành án thị xã Ninh Bình.
Đến đây, dư luận không thể không nhắc tới trách nhiệm của Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình, bởi Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình đã gửi công văn số 33 ngày 24/3/1999 tới lãnh đạo Sở Tư pháp. Những từ đó đến nay Sở không có sự chỉ đạo buộc Đội thi hành án phải thực hiện nghiêm túc theo pháp luật. Phải chăng sự bao che dung túng cho cấp dưới đã dẫn tới sự vi phạm trở thành hệ thống. Bởi qua 4 vụ kiện đòi nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình thì ngoài vụ ông Thực bà Giang, Đội thi hành án thị xã Ninh Bình còn chưa thi hành nghiêm túc bản án khác. Đó là bản án số 05 ngày 25/6/1996 của Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Bình quyết định đương sự Phạm Thị Thảo và Đăng Văn Cần phải trả Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn số tiền vay gốc và lãi là 46.222.000 đồng. Nhưng theo bà Nguyễn Thị Huệ, tài sản thế chấp đã bán mà đội thi hành án mới trả 44.522.000 đồng, thực tế còn thiếu 7.200.000 kể cả lãi mới tính đên ngày 21/11/1998. Số tiền còn thiếu đến nay không biết đã phát tán nơi nào. Và ở Ninh Bình còn bao nhiêu ngân hàng khác phải nhờ tới pháp luật đòi nợ, liệu họ có cùng chung cảnh ngộ như Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình ?
Cũng theo bà Nguyễn Thị Huệ cho biết, sau nhiều lần trực tiếp gặp Đội thi hành án để yêu cầu trả lại tài sản cho ngân hàng của mình, bà Huệ đã bị một vài cán bộ, chấp hành viên ở đây lăng nhục, thách thức và dọa nếu không nhận 89 triệu đồng thì sẽ sung công quỹ ? Như vậy Đội thi hành án Thị xã Ninh Bình đã cố tình vi phạm pháp luật. Mong Sao các cơ quan pháp luật của tỉnh Ninh Bình sớm ra tay để lập lại cân bằng, ổn định lại trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của Ngân hàng thương mại cổ phần Nông Thôn Ninh Bình, trong đó có quyền lợi của nhiều cổ đông trong tỉnh.
Nhóm PV điều tra-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Viết từ bãi biển Phu-két – Phần 3

Trông người lại nghĩ đến ta
Trường hợp của đảo Phu-két nói trên chỉ là một trong nhiều điểm du lịch thành công của Đông Nam Á. Song nó cũng cho thấy vai trò và mối quan hệ giữa nhà nước và yếu tố hợp tác của người dân bình thường là quan trọng như thế nào đối với mục tiêu phát triển du lịch nước nhà. Thiết nghĩ, Phu-két chỉ là một hòn đảo nhỏ tầm thường mãi mãi bị lãng quên nếu không có một hạ tầng cơ sở hợp lý như vậy hoặc sẽ là một sự lãng phí nếu như sự đầu tư đó không được tính toán đúng hoặc nếu không có một sự phối hợp hài hòa giữa người dân và chính phủ và giữa các ngành hải quan, hàng không và các ngành kinh tế khác của cả nước. Mặt khác, sự thành công của Phu-két còn nhờ việc biết kết hợp thế mạnh của rừng và biển với các đặc điểm tôn giáo, văn hóa và lao động thủ công của con người bản xứ, nhờ vậy mới đủ sức đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách từ nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Thông thường một du khách ngoài mục đích tắm biển ra còn muốn tìm hiểu thêm về phong cảnh, con người và mua sắm một số đặc sản nào đó. Còn nếu như chỉ có tắm biển không thôi thì người ta sẽ không nhất thiết sẽ phải đến Phu-két. Ở Việt Nam, có khá nhiều điểm du lịch có một hai thế mạnh cùng với những khả năng tiềm ẩn khác, song dường như chúng ta chưa có ý thức khai thác tính đa dạng của nó. Vì nhiều lý do chúng ta thường chỉ đầu tư cho một thứ, và tại những địa điểm thường nằm tách rời nhau không thành một khâu liên hoàn tiện lợi cho sự đi lại của khách. Khâu yếu kém nhất có lẽ là cơ sở hạ tầng như đường sá, điện nước, vệ sinh và an ninh môi trường. Du khách đi chơi là để hưởng thụ chứ không phải để rèn luyện thể lực hay lòng kiên nhẫn, và nếu như chỉ có rèn luyện thì ngày nay người ta có thể làm việc đó tốt hơn nhiều chỉ trong bốn bức tường nơi ngôi nhà của họ. Bất cứ sự kiểm soát lộ liễu nào với những thủ tục rắc rối phiền hà đều có thể làm nản lòng du khách. Nếu chịu khó nghiên cứu và thay đổi cách làm cho phù hợp, ngành du lịch Việt Nam chắc chắn sẽ còn hấp dẫn hơn rất nhiều. Chúng ta hoàn toàn có thể biến vùng hồ Ba Bể thành một khu du lịch không chỉ có cảnh quan mà còn bơi lội, săn bắn, chế tác mỹ thuật và một nơi mua sắm. Đèo Hải Vân có thể trở thành một điểm du lịch tổng hợp thuận tiện để thu hút du khách bốn phương với một mức độ chi phí rẻ nhất vùng Đông Nam Á. Đó là chưa nói đến Vịnh Hạ Long, Đà Lạt, Ba Vì – Tam Đảo và nhiều điểm du lịch khác đã hoặc chưa được khai thác đều có thể trở thành những khu du lịch rất “ăn khách”. Đừng nghĩ rằng vốn đầu tư là tất cả bởi lẽ có tiền mà tiêu không đúng thì chỉ chuốc lấy sự phiền hà !. Có ít vốn thì làm nhỏ và “chậm chắc”, nhưng khi đã làm phải biết tính toán cho lâu dài, chớ bao giờ nghĩ rằng “tàm tạm, khi nào có điều kiện thì làm lại”, vì như vậy là một cách làm rất lãng phí và nhiều khu đưa lại những tác động tâm lý không tốt đối với du khách mà mãi về sau khó lấy lại cảm tình của họ.
Hà Li – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Viết từ bãi biển Phu-két – Phần 2

Thực ra cảnh vật trên hòn đảo này cũng tương tự như một số vùng ven biển và đảo ở nước ta, cũng rừng, cũng núi và bãi biển với những trận mưa rào nhiệt đới và ánh nắng chói chang mà ta không thiếu gì. Ngoài những yếu tố chung muôn thuở là “nhân hòa, địa lợi”, có lẽ nguyên nhân chính là cơ sở hạ tầng tuyệt vời của Phu-két. Tuy chỉ là một hòn đảo nhỏ Phu-két có một sân bay quốc tế lớn thứ hai Thái Lan với đầy đủ các thiết bị và tiện nghi của một sân bay hiện đại, đặc biệt là khách nước ngoài có thể làm thủ tục xuất – nhập cảnh ngay tại đây mà không nhất thiết phải qua thủ đô Băng – Cốc hay bất cứ một thành phố nào khác. Hệ thống đường xá chằng chịt đều được trải nhựa phẳng lì, với hệ thống báo hiệu giao thông và đèn chiếu sáng không khác gì tại các đô thị khiến cho cả hòn đảo không khác nào một thành phố lớn, nhưng cái hay là hai bên đường không san sát nhà cửa mà là những rừng cây, bãi cỏ, thỉnh thoảng cách quãng mới có những siêu thị, ngôi chùa cổ kính, hoặc một vài trạm xăng hay trạm dịch vụ nào đó, tất cả chỉ vừa đủ để làm thuận tiện và yên lòng cho du khách.
Ngồi xe dạo trên khắp nẻo đường của đảo ta có cảm giác như đi trong một miền đất êm đềm và thơ mộng, một thứ cảm giác khiến cho khách muốn sẽ quay lại với nơi này. Cứ thế, những con đường dẫn ta đến các bãi tắm, lên các đỉnh đồi và ra tận sát mép nước biển xung quanh hòn đảo. Các thứ ở đây dường như đã được hoạch định từ lâu trong một tổng thể hài hòa, thuận tiện, ít phải phá đi làm lại mà chỉ có tu bổ thêm vào cho hoàn thiện hơn. Được biết toàn bộ hệ thống hạ tầng đó đều được nhà nước đầu tư, tư nhân chỉ lo xây dựng các công trình kinh doanh của họ như các khách sạn, bãi tắm, nhà hàng. Có lẽ đó là một sự phân công hợp lý. Tình hình trật tự an ninh du lịch ở đảo này cũng rất tốt và là yếu tố then chốt góp phần vào thành công của hòn đảo du lịch này. Dĩ nhiên để có một nền nếp tốt như vậy hệ thống luật lệ ở đây phải nghiêm minh lắm, nhất là phải hợp lý và phù hợp với mong đợi của người dân địa phương lẫn du khách. Khách nước ngoài dù là quốc tịch nào đến đây đều có thể rất dễ dàng thuê mướn các loại phương tiện đi lại như xe gắn máy, xe ô-tô các loại với một giá rất phải chăng. Thuê một xe ô-tô con có điều hòa chỉ hết độ 400 bath, cộng với tiền xăng cũng chỉ hết 5-600 bath một ngày (tương đương 15 đô la Mỹ). Cảnh sát sẽ chẳng bao giờ nhũng nhiễu người thuê xe, trừ phi họ thực sự vi phạm luật lệ giao thông. Đỗ xe ở các nơi công cộng họ không phải trả tiền mà cũng không mấy khi xảy ra mất cắp. Ở mức sống của người dân xem ra vẫn còn thấp, có khá nhiều thanh niên “bán thất nghiệp”, song họ cũng không phải vì thế mà có những hành vi “xin đểu” đối với khách du lịch. Các cửa hàng tư nhân bày bán đủ thứ song đều có biển giá và ít khi thấy cảnh tranh cướp hay chửi bới ầm. Nói chuyện với một số khách châu u sang đây nghỉ mát, họ đều có chung một ấn tượng rằng người dân ở đây thật thà và mến khách. Các hàng hóa thường rất sẵn và khá đa dạng được bày bán ngay tại các khu chợ trên bãi biển. Rất nhiều trong số đó là hàng được làm tại địa phương và bằng những vật liệu địa phương như tre gỗ, vỏ sò, chim thú… Đồ ăn thức uống bên ngoài giá rất phải chăng so với giá khá cao tại các khách sạn, tạo cho du khách những sự lựa chọn cần thiết.
Hà Li – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Viết từ bãi biển Phu-két – Phần 1

Ngành công nghiệp không khói
Du lịch là một trong số ít những ngành kinh tế có lịch sử lâu đời nhất và cũng có tương lai lâu dài nhất, bởi lẽ nó gắn liền với nhu cầu cơ bản của con người, và nguồn nhiên liệu cho nó không bao giờ cạn kiệt. Khác với nhiều ngành sản xuất khác, có thể nói du lịch là ngành kinh tế của các ngành nghề vì nó phát triển là nhờ môi trường kinh tế – xã hội nhất định; từ hành chính, pháp lý đến dịch vụ bưu điện, giao thông, y tế cho đến các ngành sản xuất khác nhau đều đóng góp một cái gì đó cho ngành du lịch. Ngược lại, du lịch đưa lại vô số những lợi ích cho mọi người. Nhiều quốc gia trên thế giới đã tồn tại và phát triển nhờ vào du lịch. Ấy vậy mà, không phải lúc nào, ở đâu và ai cũng đều nhận thức đúng đắn về “ngành công nghiệp không khói” này để khai thác đầy đủ thế mạnh của nó.
Ở Việt Nam đã có thời chúng ta tràn trề hy vọng về tương lai của ngành du lịch một đất nước thống nhất. Cảm nhận chung lúc bấy giờ là hễ mở rộng cánh cửa là du khách ngoại quốc sẽ ùa vào vì đất nước ta vô cùng giàu đẹp và còn xa lạ đối với du khách ngoại quốc. Khi đó ít ai hình dung ra những gì cần thiết phải làm thêm nữa để hấp dẫn du khách. Thậm chí có người, có ngành còn lo du khách sẽ ùa vào quá nhiều và gây những phiền toái cho chúng ta. Cũng có những điều ngộ nhận khác, thậm chí mơ hồ nhần lẫn giữa nhu cầu hiếu kỳ của du khách với cái nghèo nàn, lạc hậu, những đồ đạc cũ kỹ, lỗi thời, và thô sơ. Cứ theo cách tư duy đó, chúng ta thấy mình có hàng loạt các “thế mạnh”, nhưng lại quên mất sự so sánh tương đối giữa chúng ta và thế giới bên ngoài và những gì mà du khách thực sự mong đợi. Chúng ta chưa thấy hết vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống hạ tầng cơ sở nói chung và giao thông nói riêng đối với việc phát triển du lịch. Nhìn các vị “khách ba lô” lần lượt tiến vào thăm Việt Nam, có người tưởng đó là một mô hình du lịch mới và thích hợp với ta. Cũng đã có thời “toàn dân làm du lịch” theo kiểu phong trào. Từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu vùng xa, dậy lên một trào lưu làm du lịch và không ít những câu chuyện “thật như đùa” đã diễn ra trong bối cảnh đó.
Nhìn sang các nước láng giềng
Ai có dịp đến một số khu du lịch nổi tiếng của các nước trong vùng Đông Nam Á, nơi có vùng thổ nhưỡng, khí hậu và cảnh quan như đất nước chúng ta, hẳn sẽ nhận ra một sự khác biệt khá nhiều về cách làm du lịch giữa họ và ta. Khu nghỉ mát và giải trí Gen-ting (của Ma-lai-xia), đảo du lịch tắm biển Ba-li (của In-đô-nê-xia) cũng như hàng chục các địa danh nổi tiếng khác trong vùng Đông Nam Á, về địa thế và cấu tạo tự nhiên, đều là những nơi có thể tìm thấy trên khắp các vùng lãnh thổ Việt Nam. Có lẽ không mấy ai chưa nghe tên Phu-két của Thái Lan, nơi hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch từ năm châu bốn biển, chưa kể hàng loạt các hội nghị, hội thảo quốc tế diễn ra tại đó. Điều gì khiến một hòn đảo nhỏ nằm cách xa thủ đô Băng-Cốc đến gần nghìn cây số lại trở nên có sức hấp dẫn to lớn đến vậy trong suốt hàng chục năm nay?
Hà Li – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

GMT giải mã từ RUT OF RAT Bàn về các loại hình du lịch

Bạn muốn nghỉ ngơi ư!- Hãy đến Torquay. Torquay là một trong những trung tâm nghỉ dưỡng nổi tiếng của nước Anh. Ở đây, có những phức hợp gồm các khu vui chơi, giải trí, thể thao, khách sạn, nhà hàng, khu cắm trại. Torquay có bờ biển đẹp, kéo dài với những bãi cát trắng, mịn màng. Bạn có thể đi bộ để ngắm phong cảnh kỳ ảo lúc hoàng hôn buông xuống. Nếu bạn yêu thể thao, xin hãy đến với sân golf, tennis, hay say mê với lướt vát trên biển, lặn biển để xem những dải san hô, hoặc thú vui câu cá. Ban đêm các rạp chiếu phim, nhà hát, sàn nhảy, quán bar, nhà hàng sẵn sàng chờ đón phục vụ bạn. Đối với trẻ em có sân chơi với đầy đủ các trò chơi mà chúng yêu thích.
Thủ đô của Italy là Rome, một trong những thành phố nổi tiếng của thế giới về lịch sử, nghệ thuật, văn hoá, tôn giáo và khoa học. Theo truyền thuyết, Rome được ROMMULUS xây dựng vào năm 753 trước công nguyên. Năm 1990, Giáo Hoàng Pius XII đã tổ chức năm thánh và Rome trở thành thủ đô tinh thần của đạo Catholicism. Năm 1960 Olympics được tổ chức ở Rome. Bạn có thể ở lại Rome cả tháng trời mà vẫn cảm thấy chưa chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp kỳ diệu và thần bí của Rome.
Nếu cảnh ồn ào nơi thành phố làm bạn mệt mỏi thì cách thư giãn êm ái nhất là đến với du lịch nghiên cứu, du lịch mạo hiểm, du lịch sinh thái… Nhằm vào những chủ đề khác nhau với những mối quan tâm đặc biệt, bạn có thể đi tìm hiểu về văn hoá, sinh thái, hay gặp gỡ đồng nghiệp. Bạn cũng cần chú ý rằng: du lịch mạo hiểm luôn có những thách thức về thể lực và tâm lý, leo núi, lặn sâu xuống biển, luồn lách vào các hang động, không chỉ có sự đam mê, hấp dẫn, mà còn đầy rủi ro và nguy hiểm. Trái với ham muốn tham quan thành phố, bạn có thể tham gia các hoạt động du lịch làng bản, nông trại, du lịch đi bộ, xe đạp, thả bộ quan sát đất trời và cộng đồng dân cư.
Du lịch ngày nay đã phát triển hết sức đa dạng, có nhiều loại hình du lịch, phù hợp với từng người, từng lứa tuổi, từng nơi.Chẳng hạn như du lịch đường thuỷ, du lịch thay đổi chỗ ở, du lịch cắm trại, du lịch tại các điểm dừng khi phải chờ đợi chuyển phương tiện giao thông, du lịch của thanh thiếu niên v.v…Có những hoạt động tưởng chừng không phải hoạt động du lịch, nhưng lại là động lực để thúc đẩy khách đi du lịch đó là: du lịch hành hương trở về cội nguồn (du lịch tín ngưỡng), du lịch công vụ, du lịch thăm thân, du lịch về với kỷ niệm xưa v.v…
Hiện nay đã có quá nhiều loại hình du lịch phát sinh nhằm thoả mãn nhu cầu của bạn, thường thì có 4 loại hình đặc trưng:
Khu, điểm du lịch tổng hợp (Resorts)
Du lịch thành phố (Urban Tourism)
Du lịch nghiên cứu và mạo hiểm (Reserch – Adventure Tourism)
Các loại hình khác (Other Fom)
Nhưng ở đâu có người thì ở đó có chất thải và kéo theo là sự sinh sôi của các sinh vật có hại, đặc biệt là loài chuột. Sự tương phản ấy nhắc nhở khách du lịch phải chú ý bảo vệ môi trường, môi sinh. Một khái niệm ngộ nghĩnh nhưng có tính nhắc nhở về môi trường, đồng thời cũng giúp ta dễ nhớ về các loại hình du lịch, đó là đoản ngữ “RUT OF RAT” nghĩa là “Hãy theo dấu chân của chuột”, chúng ta sẽ có các loại hình du lịch.
Đàm Viết Lọc – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999