Ký ức mùa hè Tam Đảo_Phần 2

Những gì còn lại của các biệt thự thời Pháp ở Tam Đảo quả không nhiều lắm, ngoại trừ một thành cổ hay đúng hơn nó mang dáng dấp của một khu nhà thờ đá, nay được sử dụng làm hội trường, quán ăn và Câu lạc bộ karaoke. Đối diện với khu nhà thờ đá vuông là bể bơi ngoài trời có hình dáng của một chiếc đồng hồ cát với phần giữa rộng hơn hai đầu. Kế đó là một vọng lâu ban công nhỏ trên đỉnh một khu đồi gò – con đường này là một vực nước hình ô van sâu 60cm có rất nhiều mảnh vỡ vụn có lẽ do xây dựng một nhà khách gần đó. Khi tới sườn dốc đông của thị trấn Tam Đảo, những tàn dư của thời pháp dường như hiện ra rõ hơn. Các cổng đá nối với nhau mang đậm nét kiến trúc Pháp đứng sừng sững trước những lô đất trống mà theo người dân Tam Đảo đây là nơi các tòa thự do nhỏ thời pháp đã từng toạ lạc. Phần lớn mọi người gọi nơi này là “cổng trời”.
Con đường dốc tới đáy thác nước mà người Pháp gọi là “Thác Bạc” (Cascade d’Argent hay Uwaterfall of Silver) được xây bằng 300 bậc đá. Trước đây thác nước này đã từng mọc lên khách sạn vàng bạc còn giờ đây chỉ còn một nền đá nhấp nhô với các khe thoát nước từ trên đỉnh thác mát rượi dồn xuống tới tận phía dưới chân núi.
Qua lần lượt các di tích, Bà chúa thượng ngàn trên chặng đường dài 13km vượt dốc ngoằn nghèo khúc thủy đến đền Mẫu, đền Đức Thánh Trần rồi lên phần đất bằng phẳng nhưng nhấp nhô cao thấp – nơi tòa lạc của các khách sạn, nhà nghỉ, quán karaoke, thăm nhà sáng tác, chụp kiểu ảnh ở công viên, nhà dây thép Tam Đảo và ở cổng vòm thành cổ, chúng tôi bắt đầu đoạn cuối của cuộc hành trình leo tới đỉnh Thạch bàn có tháp truyền hình (nơi diễn ra các cuộc họp bàn của Việt Minh tuyên truyền giải phóng quân trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp). 300m độ cao lên đến nơi chúng tôi thật sửng sốt khi được nhìn toàn cảnh Tam Đảo, được hít khí trời mát mẻ và thả tâm hồn mình vào thiên nhiên tuyệt vời. Cảnh quan nhìn từ đây đẹp không gì tả xiết.
Tam Đảo giống như nhiều nơi khác: cũng có đặc sản riêng do chính người dân nơi đây làm ra: Măng tre mai (thứ măng ngâm dấm thái từ loại tre mai rất thơm là thứ nước chấm ngon: bánh cáy, bánh cu đơ, mè sửng… và nhiều thứ đặc sản khác khiến bạn sẽ không quên khi đến Tam Đảo dù một lần sẽ nhớ mãi và mong có dịp quay trở lại.
Trên đường về Hà Nội mỗi người trong số chúng tôi đều cảm thấy vui dù đã thấm mệt. Tôi nhớ những dòng chữ “Khu nghỉ Tam Đảo được giải phóng ngày 16/7/1945” tại cổng của căn nhà nay là công ty du lịch Tam Đảo dưới sự lãnh đạo của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân phối hợp với binh sĩ yêu nước, người tù nổi dậy và người dân Tam Đảo. Hẳn những gì đã mất và những tàn dư để lại từ thời pháp: 300 biệt thự giờ đây không ai được chiêm ngưỡng nhưng cùng thời gian cảnh quan Tam Đảo vẫn còn đẹp và vẫn mãi mãi huyền ảo, lãng mạn bên cạnh những nét hiện đại.
Phạm Mạnh Hùng – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999

Ký ức mùa hè Tam Đảo_Phần 1

Cách Hà Nội khoảng chừng 87 cây số về phía Tây Bắc, Tam Đảo được mệnh danh là Đà Lạt phương Bắc. Điều này cũng đủ lôi cuốn chúng tôi vượt chặng đường dài xa xôi từ thủ đô Hà Nội làm chuyến picnic thăm Tam Đảo. Đây là cơ hội tuyệt vời cho nhóm sáu đứa chúng tôi quên đi cái nóng bức của khí trời mùa hè Hà Nội, bỏ lại sau lưng những đường phố chật hẹp và quang cảnh ồn ã tiếng xe, hướng tâm hồn mình cho thiên cảnh núi non hùng vĩ.
Nhìn từ xa, giống như dãy tiền của các núi đá, dãy Tam Đảo nhô ra từ một vùng đất bằng phẳng có độ cao tới 1200m so với mặt nước biển. Phải mất hơn hai tiếng đồng hồ từ Hà Nội chúng tôi mới tới được chiếc cổng nhỏ đề “Kính chào quý khách tới thăm Tam Đảo”. Tại đây có nơi thu vé thăm quan. Quanh đó là các xe đủ loại: coaster, xe car, xe buýt đang đứng đợi khách. Đi qua chiếc cổng nhỏ này chúng tôi hiểu rằng đã đến lúc bắt đầu chặng đường vượt dốc dài chừng 13km. Càng leo cao nhiệt độ càng giảm dần. Cùng chặng đường với chúng tôi còn có các xe du lịch và một đội ngũ xe ôm lái những chiếc xe min-khơ xanh đỏ nối đuôi nhau cùng vượt dốc. Mỗi đoạn ngoặt dốc đến rợn người đem lại cảm giác thót tim đổi lại chúng tôi được ngắm nhìn cảnh thung lũng phía dưới đẹp mê hồn. Còn khoảng 1/3 chặng đường nhóm chúng tôi bắt đầu nhìn thấy thấp thoáng phía trên các vila, biệt thự xanh đỏ tím vàng (nói quả không ngoa nhưng có lẽ còn có nhiều màu hơn nữa hay chỉ là ảo giác).
Vào ngày chủ nhật xe lên Tam Đảo có ít hơn nhưng luôn có các xe vận chuyển nhu yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt của du khách đến tham quan Tam Đảo. Khoảng 30 phút sau vài lần dừng nghỉ để đổ nước làm mát máy xe (chúng tôi học được kinh nghiệm này khi quan sát các chủ xe min-khơ chở khách thuê ở mỗi trạm). Xa xa âm thanh dòng suối núi chảy róc rách. Cánh rừng thông chạy suốt chặng đường dốc đổ dần xuống khi xe của nhóm chúng tôi lên được tới bãi gửi xe Tam Đảo. Bỏ lại những lớp mây mù và cánh rừng thông chúng tôi bắt đầu chặng thứ hai của cuộc hành trình chinh phục Tam Đảo. Từ đây chúng tôi có thể nhìn thấy tháp truyền hình được bao bọc xung quanh bởi làn sương mây mù mỏng tang trong suốt. Nơi chúng tôi đứng cao 900m và như vậy sẽ phải leo thêm 300 – 400m nữa mới lên được tới đỉnh nơi đặt tháp truyền hình. Có thể thấy rõ ở mặt tây của thị trấn Tam Đảo là các khách sạn và nhà nghỉ, còn mặt dốc Đông của thị trấn là các quán karaoke nối tiếp nhau mọc cao có thấp có, lưng chừng có. Theo ban quản lý khu di tích Tam Đảo, có tới hơn 100 nhà nghỉ, khách sạn. Còn số nhà hàng cũng phải bằng chừng đấy. So với biệt thự và nhà hàng của thời Pháp thì vẫn còn kém xa nhưng dẫu sao đây cũng là một con số đáng nói.
Phạm Mạnh Hùng – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999

Chân dung nhà doanh nghiệp

Ông Bùi Văn Khiêm trả học phí 50 triệu đồng để làm du lịch
Bên quốc lộ 1, ngay gần lối rẽ vào khu du lịch Tam Cốc – Bích Động tỉnh Ninh Bình, đông đảo người dân nơi đây không khỏi ngỡ ngàng: trên khu đất sình lầy ven sông, một khu vui chơi giải trí có bể bơi đầu tiên của cả khu vực thị xã đang dần hoàn thiện. Ngạc nhiên hơn nữa, chủ công trình này là một doanh nghiệp tư nhân đã mạnh dạn bỏ ra hàn tỉ đồng để thực hiện ý tưởng táo bạo của mình từng được nung nấu ngót chục năm trời.
Ông Bùi Văn Khiêm năm nay 60 tuổi, vốn xuất thân từ thợ đóng tàu, 6 năm quân ngũ cùng 31 năm đời thợ đủ để ông tích lũy kinh nghiệm mở một xưởng đóng tàu và thực sự gây dựng cơ đồ từ năm 1989. Vốn ham mê du lịch từ nhỏ, ông coi du lịch như một thú vui tinh thần. Chính điều đó đã khiến ông trăn trở, suy tính làm một điều gì đó để khai thác, phát huy tiềm năng du lịch của quê hương. Năm 1990 ông đã tham gia kinh doanh nhà nổi ở khu DL Tam Cốc – Bích Động. Nhưng khoản lỗ hơn 50 triệu đồng đã là học phí đắt giá cho ham muốn của mình. Không nản chí, năm 1991 ông xây dựng đề án mở khu du lịch bên quốc lộ 1, gần khu Tam Cốc – Bích Động, với ý tưởng tạo khu vui chơi giải trí cho bà con trong vùng và du khách thập phương. Nhưng đề án của ông chưa đủ sức thuyết phục để chiếm lòng tin của chính quyền địa phương. Năm 1996 một con tàu 600 tấn được hoàn thành cũng là lúc ông chấm dứt cái nghề mà ông từng theo đuổi hơn nửa cuộc đời. Ông chuyển sang kinh doanh nhà nghỉ và tiếp tục kiên trì với cái đề án năm xưa. Khách sạn Tháng 8 (cơ sở 2) được ông xây dựng ven đường 1, ngay bên vùng đất đã và đang từng ngày cuốn hút tâm trí ông.
Thời gian cùng sự nhạy cảm bởi lòng ham mê đã giúp ông dần hoàn thiện đề án của mình. Chính sự kiện và lối làm việc nghiêm túc, vận may đã đến với ông: năm 1998, UBND tỉnh Ninh Bình đã thông qua đề án và quyết định trao quyền sử dụng hơn 7 ha đất trong vòng 50 năm. Chưa đầy một năm miệt mài với số vốn hơn 1 tỷ đồng tự có, ông đã xây dựng được ngôi nhà dịch vụ 2 tầng và khu bể bơi trên diện tích 2000 mét vuông, cùng với trạm bơm, hệ thống lọc nước từ dưới sông lên qua một bể lắng lớn, đồng thời với việc trồng hoa cây cảnh. Ông Khiêm cho biết đến đầu năm 2000 bể bơi sẽ đi vào hoạt động và là bể bơi đầu tiên của TX Ninh Bình, chắc chắn sẽ thu hút đông đảo nhân dân đến vui chơi, luyện tập. Đây mới chỉ là cơ sở ban đầu, theo đề án khu đất còn lại ông sẽ xây dựng vườn chim, thú, nạo vét lòng sông, cải tạo đảo nhỏ, xây dựng khu vui chơi liên hoàn gồm các loại hình đua thuyền, câu cá, nghỉ ngơi… Chắc chắc đây sẽ là điểm hấp dẫn kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch khi đến với khu Tam Cốc – Bích Động, Cố đô Hoa Lư cùng bao cảnh quan khác của Ninh Bình. Tuy nhiên để đạt được ý tưởng đó, ông phải thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài. Trước mắt tập trung khai thác khu bể bơi và dịch vụ ăn nghỉ.
Chèo thuyền đưa chúng tôi qua thăm công trình mới, ông bộc bạch: “Khó khăn nhất của tôi bây giờ là việc xây dựng chiếc cầu tại chỗ này”. Tưởng thiếu kinh phí, chúng tôi muốn khuyên ông xin trợ giúp từ ngân hàng nhưng ông cho biết: “Cái khó đối với tôi là thủ tục, để một chiếc cầu ra đời phải có thiết kế, thẩm định, phê duyệt, thi công… Rườm rà quá, mà tôi muốn mọi việc sao cho đơn giản, tiết kiệm nhưng lại hiệu quả…”
Chúng tôi hiểu và thông cảm với cách nghĩ đầy thực tế của ông, cũng như các doanh nghiệp tư nhân khác. Mong sao nguyện vọng thực tế của ông sớm được các cấp, các ngành ở Ninh Bình giúp đỡ, tư vấn trong khuôn khổ cho phép. Đây là một trong số ít những cá nhân năng động, dám nghĩ dám làm rất cần được động viên khuyến khích. Đặc biệt đầu tư cho lĩnh vực du lịch là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình hành động quốc gia về Du lịch mới được Chính phủ thông qua đầu năm nay
Bài và ảnh: Bùi Hỏa Tiễn-Tuần Du lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Thấy gì qua phim ẩn số cuộc đời – Phần 2

Nêu một tấm gương phản chủ trương chính sách về việc xây dựng nông thôn, về việc giáo dục thanh niên nông thôn, muốn tránh lao động thì cứ việc ra thành thị, không lấy được chồng ngoại quốc thì cũng lấy được chồng ở thành phố, cô chị lấy chồng Tây một cách trót lọt ngon lành, gửi tiền về cho cô em 600 đô để cô em sắm sửa quần áo trang điểm để có điều kiện lấy chồng ngoại quốc, còn cô em thì thích ở thành phố bất biết là lấy được chồng thương hại hay là yêu thực tình, miễn là có tiền không phải lao động đồng áng vất vả.
Vi phạm quy định nhà nước về việc cấm có những hành động biểu hiện trái với đạo đức, với phong tục tập quán lành mạnh trong hoạt động văn hóa văn nghệ. Việc nhảy đầm theo kiểu nữ quàng vào cổ nam, nam ôm lấy mông nữ ghì chặt vào người nhau là một hành động khiêu dâm, kiểu nhảy đầm này phương Tây đã có từ lâu rồi, ở nước ta có một số ít nhà hàng “đặc biệt” cũng có kiểu nhảy này nhưng đưa lên phim (hoặc hoạt động văn nghệ nói chung) thì nhất thiết không được, ngay như những cảnh hôn môi phim VN cũng đều tế nhị không thể trắng trợn như phim phương Tây được, mỗi nước có một nền văn hóa đạo đức phong tục tập quán riêng.
Phim “Ẩn số cuộc đời” là một phim rẻ tiền phản tác dụng về mặt giáo dục tư tưởng cũng như đáng chê trách về mặt nghệ thuật, được chiếu trên Tivi cho cả nước xem, ai cũng biết trách nhiệm cuối cùng là của đài THVN (cũng như nhiều phim VN không hay khác). Chúng tôi xin đề nghị:
THVN muốn phấn đấu có 50% phim trong nước sản xuất, 50% nước ngoài thì cũng nên hết sức thận trọng, phải coi trọng chất lượng hơn số lượng vì đài TH hiện là một trong những phương tiện vào loại bậc nhất về thông tin và giải trí đối với quảng đại quần chúng, để thực hiện đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng và Nhà nước. Nếu không thực hiện được 50% phim sản xuất trong nước có chất lượng thì cũng không sao nhưng chúng tôi thắc mắc là xem trên báo có rất nhiều phim trong nước sản xuất mà không thấy, không hiểu vì lẽ gì, mà lại đem chiếu cái phim ẩm ương như thế.
Chi phí làm một bộ phim thuộc diện Nhà nước quản lý là do ngân sách Nhà nước đài thọ, các nhà làm phim không thể sử dụng tiền bạc của nhân dân một cách lãng phí mà phim có bảo đảm chất lượng hãy làm, không nhất thiết phải tiêu hết tiền do ngân sách cấp vì không khéo thì tiền mất tật mang, lợi bất cập hại. Đây là trách nhiệm của các nhà làm phim từ viết kịch bản đến quay phim rồi phát hành không phải trách nhiệm của riêng một ai, ví dụ các diễn viên thấy kịch bản hoặc đạo diễn có vấn đề thì mạnh dạn dám từ chối đóng phim, thế là một bộ phim không thể ra đời được, dĩ nhiên trách nhiệm cuối cùng là người quyết định xét duyệt cho đem ra chiếu.
Hy vọng các nhà làm phim cũng là những người chiến sĩ xung kích chân chính trên mặt trận văn hóa văn nghệ, đấy cũng là ước vọng của người dân.
Mai Phương – Tuần Du lịch – 1999

Thấy gì qua phim ẩn số cuộc đời – Phần 1

Hiện nay công bằng mà nói phim VN có một số phim hay nhưng so với trước thì phim hay có ít mà phim chưa hay thì nhiều, chúng tôi đồng tình với nội dung bài báo: Vì sao phim ta chưa hay (báo Tuần Du Lịch số 26-5/7/99). Để chứng minh điều này tôi xin phản ánh ý kiến quần chúng về phim: “Ẩn số cuộc đời” chiếu trên Đài THVN ngày 1/7/1999, chiếu lại ngày 2/7/1999, một phim có thể nói là xếp loại “mì ăn liền” mà là loại rẻ tiền nhất đối với đẳng cấp của một đơn vị truyền hình Trung ương.
Một gia đình nông dân 100% có 2 cô con gái, cô lớn gia đình đồng tình cho ra thành phố học may và cũng đồng tình một cách dễ dàng cho cô lấy một ông Tây đứng tuổi vì cô này ham tiền hơn tình mặc dù cô ấy chỉ biết một vài câu tiếng Anh “… I love you (tôi yêu anh)”, thật là mỉa mai và vô lý hết sức ! Còn tồi tệ, lố bịch hơn là cảnh khi ra sân bay tiễn con gái và con rể đi ra nước ngoài, con gái và con rể đứng trên ban công, bố mẹ vợ ngẩng cổ lên nói một tràng giáo huấn: “… anh không đối xử với con gái tôi tử tế tôi sự kiện…” chao ôi con rể Tây thì làm sao hiểu là bố vợ nói cái gì mà con gái cũng không thèm để ý. Khán giả xem phim rất bất bình (đây không phải là phim hài) với cách bố trí của đạo diễn.
Còn cô gái thứ hai 18 tuổi nhan sắc cũng tương đối đẹp tên là Thảo, vai chính của bộ phim. Thảo cũng muốn theo gương chị, lợi dụng bố mẹ muốn ép gả cho thanh niên ở làng mà hai gia đình đã hứa hẹn với nhau “… một lời nói bằng một đọi máu, nếu mày không lấy thằng ấy thì tao từ mày…”. Thảo trốn lên thành phố, nhờ tấm thiếp giới thiệu của chị cô để lại. Thảo đến một công ty chuyên môi giới tìm chồng người ngoại quốc mà người ta thường gọi là Công ty “ma cô” chuyên lừa đảo những cô con gái nhẹ dạ hám tiền. Cô được gửi ở nhờ nhà một người làm nghề phiên dịch tiếng Anh đã bỏ vợ tên Chính – cũng là một vai chính của bộ phim. Đạo diễn cố gán cho Chính là một đứng đắn có đạo đức có những câu nói giáo dục Thảo quá hay, nhưng mỉa mai thay Chính lại là bạn thân của thằng “ma cô” chỉ vì tiền ! Đạo diễn còn bỗng nhiên cho ra một nhân vật có máu “dê”, để dựng nên một cảnh khiêu vũ nói nôm na là nhảy đầm, nhảy với Thảo để sờ soạng thân thể Thảo. Nhưng cái đáng phê phán là dựng nên cảnh nhảy đầm từng đôi một, nữ bá cổ nam, nam thì hai tay ôm mông nữ ghì chặt vào người ! Qua hai lần thằng “ma cô’ dẫn Thảo đi xem mặt ông Tây, một Việt kiều lớn tuổi như bố Thảo khiến Thảo thất vọng vỡ mộng bỏ nhà Chính ra đi, kết thúc bộ phim một cách gượng gạo, Chính đi tìm và gặp Thảo.
Qua bộ phim chúng ta thấy gì:
Bịa ra một câu chuyện không thực tế, lấy cái rất cá biệt có thể có làm cái phổ biến, làm gì có gia đình nông dân dễ dàng đồng tình cho con gái lấy Tây như thế, làm gì có ở thời đại này mà nhốt con gái vào trong buồng để bắt con gái lấy chồng, một anh chồng dở dở ương ương mới gặp lần đầu, có thể nói phim đã bôi bác bêu xấu người nông dân, dù cho thời kinh tế thị trường người nông dân có ham tiền không đến nỗi mất bản chất, mất đạo lý của người VN quá đáng như thế.
Mai Phương – Tuần Du lịch – 1999

Suối Mơ, bên rừng thu vắng…

Đối với những ai từng một lần đến với Suối Mơ đều có chung một cảm nhận về cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ mà tạo hóa đã ban tặng cho mảnh đất này. Không những thế, đến với Suối Mơ còn là dịp bạn trở về với vùng đất có một bề dày lịch sử oai hùng…
Suối Mơ, bên rừng thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng…
Những câu hát của cố nhạc sĩ Văn Cao đưa chúng tôi đến với Suối Mơ, mảnh đất nằm dưới chân dãy núi Ba Vì, thuộc huyện Ba Vì (Hà Tây). Trong sương sớm, Suối Mơ hiện ra mờ mờ, ảo ảo như bức tranh thủy mặc, càng làm tăng thêm vẻ quyến rũ của miền sơn cước…
Năm năm trở về trước, nơi đây vẫn còn là những cánh rừng hoang sơ cỏ mọc um tùm. Sau thời gian phục vụ quân đội, trở về địa phương, anh Đặng Thuần Phong đã một mình lặn lội “cơm nằm, ngủ rừng” khảo sát khu Suối Mơ. Ròng rã gần một tháng trời, anh phát hiện ra một tiềm năng du lịch to lớn nơi đây và đến cuối năm 1995, Đặng Thuần Phong đã mạnh dạn thành lập khu du lịch Suối Mơ do anh trực tiếp quản lý và đầu tư xây dựng.
Suối Mơ có một quần thể cảnh quan đẹp, rộng 500 ha, gồm 4 suối lớn là Suối Mơ, Suối Trần, Suối Đá Bạc, Suối Thủy Cung…và hơn 20 thác nước lớn nhỏ cùng đổ về. Ngay trên đỉnh núi là thảo nguyên rộng 60 ha rất thích hợp cho việc vui chơi giải trí với khí hậu mát mẻ….
Suối Mơ đang hoàn thiện con đập lớn giữ nước cho hồ Thiên Nga. Đây cũng là điểm tham quan đầu tiên của du khách khi đến Suối Mơ. Với diện tích hơn 3,5 ha mặt nước, hồ Thiên Nga đã được cải tạo phục vụ cho việc bơi thuyền trên hồ, câu cá giải trí… bao quanh ven hồ là các loại cây ăn quả chín mọng, ẩn bóng chín mọng, ẩn bóng dưới các mái nhà sàn. Cùng với các hoạt động trên bạn có thể tham gia trò chơi bắn cung nỏ, leo núi chữa bệnh…
Theo lộ trình 4km dọc Suối Mơ – dòng suối lớn nhất đổ về Hồ Thiên Nga, bạn sẽ bắt gặp màu xanh bạt ngàn của rừng già, những thảm thực vật phong phú dọc hai bên bờ suối. Dòng suối trong vắt sẽ dẫn bạn đến Thác Mơ, Thác Trần… đắm mình trong làn nước mát lạnh và hiểu được cái ân tứ của thiên nhiên đã ban cho vùng đất này. Từ độ cao 12 mét đổ xuống, Thác Mơ mềm mại như mái tóc của nàng sơn nữ buông một dải trắng xóa giữa màu xanh của trời.
Từ nơi đây, phóng tầm mắt ra xa bạn có thể thấy phong cảnh khu du lịch Đông Mô, Ngải Sơn và xa hơn nữa là làng văn hóa các dân tộc Việt Nam đang được xây dựng….. khi đường cao tốc Láng – Hòa Lạc hoàn thành, bạn sẽ tới Suối Mơ chỉ trong vòng 1 giờ chạy ô tô hoặc xe máy… Khi ấy cùng với các khu du lịch Ao Vua, Đồng Mô, Khoang Xanh…. Suối Mơ sẽ hình thành một hệ thống các khu du lịch ngay dưới chân núi Ba Vì.
Anh Phong cho chúng tôi biết, để thu hút khách đến đây nhiều hơn, trong mùa du lịch năm nay, Suối Mơ sẽ đầu tư 1 tỷ đồng để xây dựng khu vui chơi giải trí như bể bơi, sân tennis và trồng các loại cây ăn quả như nhãn lồng, vải thiều… Theo như lời Chị Loan, hướng dẫn viên du lịch Suối Mơ thì vào những ngày chủ nhật, các bạn trẻ ở Hà Nội và các tỉnh lân cận thường tới thảo nguyên này để picnic, cắm trại và chơi thể thao. Vì thế khách tới Suối Mơ có ngày lên tới gần nghìn người.
Một điều gây ấn tượng đẹp cho bạn đó là sau chuyến hành trình khám phá vẻ đẹp bất tận của Suối Mơ, bạn sẽ được tham dự đêm lửa trại. Hương vị đậm đà của me rượu cần bên ánh lửa, những cái bắt tay thân mật trong đêm hội của bà con các dân tộc Dao, Mường sống dưới chân núi này hẳn sẽ làm bạn nhớ mãi…
Và càng trở nên ấn tượng hơn khi bạn có dịp ghé thăm suối tắm Mị Nương và cây đa nghìn tuổi – nơi có đền thờ Tản Viên thần. Năm tháng trôi qua, song chuyện tình tay ba của vị thần nước, thần núi và nàng công chúa Mị Nương xinh đẹp sẽ còn là câu chuyện đầy hấp dẫn đối với du khách khi đến Suối Mơ.
Đình Hải – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Phố hải sản của Hà Nội

Những năm gần đây, đời sống nhân dân thủ đô ngày càng được nâng cao làm nảy sinh nhiều nhu cầu mới. Khái niệm “đi ăn nhà hàng” không còn xa lạ đối với nhiều gia đình. Họ đến đó một phần để đỡ phải làm bếp, mặt khác để thưởng thức những món ăn ngon lạ miệng cầu kỳ. Người dân thành phố ngày càng có xu hướng thích ăn đồ biển vì những loại “đặc sản” như thịt chó, dê, rắn, ếch… đã trở nên quen thuộc. Hơn nữa, trong tình hình thực phẩm nói chung không đảm bảo về chất lượng và sự an toàn như hiện nay thì đồ biển tươi sống càng có sức thu hút đối với người tiêu dùng. Nắm bắt được nhu cầu đó, nhiều cửa hàng “hải sản tươi sống” đã ra đời, lúc đầu chỉ xuất hiện rải rác ở một phố như Bà Triệu, Hà Mã, Thái Hà… thì nay đã tạo thành hẳn một phố chuyên về hải sản – phố Tô Hiến Thành.
Con phố nhỏ này có tới hàng chục cửa hàng hải sản nằm san sát nhau đều trương biển với nhiều màu sắc, trông thật vui mắt! Hải sản được chuyển trực tiếp từ Hải Phòng, Thanh Hóa lên và để cạnh tranh các nhà hàng phải đảm bảo cho hàng của mình luôn tươi roi rói như vừa bắt xong. Để thu hút sự chú ý của khách hàng, họ cho đặt ngay ở cửa ra vào một cái bể kính lớn, trong đó “hàng” đang bơi lội tung tăng. Phương châm của các cửa hàng này là khách “chỉ con nào, bắt con nấy”. Thế là giờ đây, các “thượng đế” khỏi cần ra đến biển mà đã được thưởng thức nào cua, ghẹ, ốc hương, nào mực, sò huyết… còn đang bơi trong chậu; có lẽ chỉ còn thiếu món “mực nhảy” ở Cửa Lò. Tuy nhiên, vấn đề giá cả luôn làm khách hàng không hài lòng, ví dụ như một cân ghẹ ở chợ Long Biên chỉ có 40.000 đ, trong khi tại nhà hàng lên tới 70.000 đ. Một vấn đề nữa là việc các nhà hàng cho người ra tận giữa đường để chèo kéo khách, “nhiệt tình” đến nỗi nhiều người đâm sợ khi đi qua phố này. Hiện tượng này cũng khá phổ biến ở những phố có nhiều cửa hàng ăn uống, bia hơi…
Dù sao, sự xuất hiện của hàng loạt nhà hàng hải sản tươi sống cũng là dấu hiệu đáng mừng cho thấy sự đi lên của đời sống người dân Hà Nội. Hải sản tươi sống đã bổ sung một nét mới vào thú vui ẩm thực của những người sành ăn. Nhưng với những người dân bình thường, nó vẫn chỉ là… quảng cáo.
Phượng Ngọc – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Ca sĩ Trần Thu Hà

Nếu ai đó cho rằng ca sĩ Trần Thu Hà nhanh chóng nổi tiếng vì sự che chở của hai “chiếc ô” là Trần Tiến và Trần Hiếu thì hoàn toàn võ đoán. Bởi lẽ để có được ngày hôm nay là cả một quá trình học hỏi và rèn luyện không ngừng nghỉ của Hà. Suốt bao năm qua, không một ngày nào Hà nghỉ luyện giọng. Chính ý chí và nghị lực đã giúp Hà gặt hái được những thành quả bước đầu.
Hà tuổi Đinh Tỵ (1977) và những gì đạt được quả là quá sớm với một cô sinh viên năm thứ 3 Nhạc viện Hà Nội. Mặc dù rất bận rộn học hành, nhưng Hà vẫn tranh thủ thời gian để tham gia các chương trình ca nhạc lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Chính vì chương trình làm việc dày đặt như thế, nên rất nhiều lần tôi đến Nhạc viện Hà Nội mà không gặp Hà. Mãi đến một buổi chiều gần đây, rất hữu duyên, khi tôi “chộp” được Hà tại quán cà phê 84 Nguyễn Du – Hà Nội, và chúng tôi đã có cuộc trò chuyện ngắn. Trả lời về việc nhận nhiều “sô” thì có ảnh hưởng tới việc học không, ca sĩ Thu Hà cho biết là Hà sắp xếp được thời gian một cách hợp lý. Đối với Hà, học và đi diễn đều hết sức quan trọng. Bởi vì học ở lớp thì có thêm nhiều kiến thức còn khi đi diễn thì có điều kiện thực hành những gì đã học.
Về việc có người nói Hà nổi danh là nhờ có đôi cánh: cha (Trần Hiếu) và chú (Trần Tiến), ca sĩ Thu Hà cho rằng, xuất thân từ gia đình có nhiều người làm nghệ thuật là điều kiện thuận lợi để Hà học hỏi kinh nghiệm. Nhưng, không vì lợi thế mà Hà ỷ lại. Hà luôn tìm một phong cách và lối đi cho riêng mình. Người thầy đầu tiên dạy Hà hát là dì Phi Hiển. Dì đã truyền cho Hà niềm say mê âm nhạc từ những ngày thơ ấu. Để từ đó, đối với Hà, ca hát như là hít thở khí trời.
Ca sĩ Thu Hà cũng cho biết: vốn không phải là người sinh ra đã có chất giọng, nên để được như ngày hôm nay ca sĩ đã bỏ ra không biết bao nhiêu công sức. “E” của Hà là thích những ca khúc buồn thuộc jass và blues (hai thể loại còn mới mẻ ở Việt Nam). Ca sĩ Thu Hà cho rằng, khi biểu diễn trang phục cũng rất quan trọng. Hà thích mặc những trang phục “bụi” mà trẻ trung. Trang phục phù hợp với bài hát sẽ giúp ca sĩ rất nhiều trong khi thể hiện bài hát.
Với Thu Hà, ca sĩ yêu thích là Thanh Lam, chị ấy là một tấm gương về ý chí và nghị lực trong nghề nghiệp. Tuy nhiên, Hà cũng rất yêu Ell-Fitzgerabl và Bobby Mc Ferrin.
Điệp Anh Đào – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Nhìn lại thiên nhiên Vịnh Hạ Long 5 năm nhìn lại – phần 3

Tất cả những nổ lực đó đã đẩy đến một kết quả là Vịnh Hạ Long được bảo vệ tốt hơn, môi trường sạch hơn, mặt nước xanh hơn, đem lại sự hứng khởi và niềm tin không chỉ cho cộng đồng dân cư mà cả du khách bốn phương. Chúng ta cũng quan tâm và dành nhiều đầu tư cho công tác tuyên truyền hướng dẫn, quảng bá, nghiên cứu khoa học. Chỉ riêng Ban quản lý Vịnh Hạ Long trong 3 năm gần đây đã xuất bản gần 10 công trình nghiên cứu và đầu sách tuyên truyền. Các cơ quan báo chí, truyền hình ở Trung ương và địa phương dành cho Vịnh Hạ Long nhiều quan tâm, trên cả những mặt được và chưa được với tình cảm và thiện chí tốt đẹp. Trong những ngày gần đây, chúng ta lại nhận thêm một tin vui mới: unesco đã thẩm định và công nhận bổ sung giá trị địa chất của Vịnh Hạ Long vào cuối năm 2000. Như thế có nghĩa là Hạ Long sẽ một lần nữa đăng quang, một vương niệm nữa sẽ được trao cho Hạ Long. Điều ấy cũng có nghĩa là trách nhiệm của thế hệ chúng ta trước lịch sử đối với tương lai sẽ nặng nề thêm. Không thể không nói đến những mối quan hệ quốc tế mà chúng ta đã tạo lập được trong 5 năm qua. Ngoài ra Unesco chúng ta đã thiết lập, mở rộng quan hệ với nhiều nước và tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế, Trung tâm di sản thế giới, UND, Ngân hàng thế giới, các nước Úc, Nhật Bản, Đan Mạch, Hà Lan, Thái Lan, Canada, Trung Quốc… Vị thế của Hạ Long trong lòng bạn bè quốc tế ngày càng nâng cao. Sắp tới chúng ta sẽ đón nhận một số dự án tài trợ quốc tế với mục tiêu nâng cao khả năng quản lý và bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long. Trong 5 năm qua, Đảng bộ, Chính quyền các cấp các ngành và nhân dân Quảng Ninh đã coi trọng và đặt Hạ Long vào đúng vị trí của một Di sản thế giới. Những kết quả nổi bật này chúng ta đạt được trong công tác quản lý Vịnh Hạ Long từ khi công nhận là Di sản thế giới thể hiện trên máy điểm sau đây:
Nhận thức của cấp ủy, chính quyền, các ngành địa phương và cộng đồng nói chung về giá trị, vị trí của Hạ Long được nâng lên một bước, từ đó đã tạo ra một bước chuyển biến quan trọng về ý thức bảo vệ, giữ gìn di sản.
Từ tình trạng bị buông lỏng, thiếu quản lý, đến nay chúng ta đã tập trung chấn chỉnh bằng nhiều giải pháp và đưa công tác này vào nề nếp, về cơ bản đã quản lý được, bước đầu tạo ra sự phối hợp đa ngành có hiệu quả.
Môi trường của Hạ Long được bảo vệ và cải thiện một bước đáng kể, tạo cơ sở cho công tác bảo tồn gây được niềm tin trong cộng đồng và thiện cảm của du khách.
Trong một thời gian ngắn, chúng ta đã tập trung đầu tư về quản lý, con người, tài chính và bước đầu phát huy có hiệu quả những giá trị và vị thế của Hạ Long, làm rõ được hướng đi đối với vấn đề này về lâu dài. Những thành quả ấy không thể tách rời sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, sự phối hợp giúp đỡ của các Bộ, ngành củ Trung ương, nhất là Bộ Văn hóa – Thông tin, ủy ban quốc gia Unesco Việt Nam, Bộ xây dựng, Bộ Tài Chính, Bộ kế hoạch và đầu tư. Tuy nhiên chúng ta cũng phải thẳng thắn chỉ ra rằng, còn rất ít nhiều việc phải làm và cũng có không ít tồn tại. Làm thế nào để vừa bảo tồn vừa phát triển? Làm thế nào để cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long? Môi trường Vịnh Hạ Long luôn là vấn đề nhạy cảm? Hiện nay đã được cải thiện một bước nhưng chưa được như chúng ta mong muốn. Ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường chưa thật tốt. Hiệu quả hoạt động du lịch chưa cao. Tiềm năng to lớn của Hạ Long được khai thác chưa nhiều. Đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu. Cách thức quản lý, điều hành đứng trước yêu cầu phải đổi mới. Môi trường Vịnh Hạ Long cũng như môi trường du lịch sẽ là những lĩnh vực chúng ta phải tập trung đầu tư nhằm tạo ra những bước đột phá mới. Trước mắt chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để bảo vệ và tôn vinh những giá trị toàn cầu của Vịnh Hạ Long. Nhưng kết quả của 5 năm qua chưa nhiều nhưng sẽ là hành trang, kinh nghiệm quý giá để chúng ta có thêm niềm tin tiến bước vào thế kỷ 21, và chúng ta có cơ ở để lạc quan hướng tới tương lai.
PV-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Nhìn lại thiên nhiên Vịnh Hạ Long 5 năm nhìn lại – phần 2

Đội ngũ cán bộ nhân viên từ 12 người lúc mới thành lập nay đã lên tới 140 người với các phòng ban chức năng, nhiều cán bộ trẻ, được đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý một Di sản thế giới. Cùng với việc thành lập Ban quản lý Vịnh Hạ Long tỉnh đã chỉ đạo các ngành và Thành phố Hạ Long phối hợp chấn chỉnh những lộn xộn và tổ chức lại các hoạt động quản lý khai thác Vịnh Hạ Long như thu hồi các hang động giao cho ban quản lý Vịnh Hạ Long trực tiếp quản lý, bán vé tham quan, quản lý phương tiện, bến bãi, các điểm dịch vụ, kiểm tra và xử lý nghiêm khắc những vụ xâm hại đến giá trị di sản. Đến nay đã chấm dứt hoàn toàn việc phá đá, việc chặt cây, nổ mìn giảm hẳn. Những lộn xộn, mất trật tự trong quản lý, khai thác Vịnh Hạ Long đã cơ bản được giải quyết. Ngay từ năm 1996, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã coi việc xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn, phát huy giá trị của Vịnh Hạ Long đến năm 2020, nhằm tạo cơ sở pháp lý và hoạch định rõ nội dung, các bước đi trong bảo tồn, khai thác Vịnh Hạ Long là một công việc cấp bách, cần tập trung làm ngay. Với sự phối hợp của Bộ văn hóa – Thông tin, Bộ xây dựng, Ủy ban Quốc gia Unesco Việt Nam, đến nay Quy hoạch này đã cơ bản hoàn thành, chuẩn bị trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đi đôi với chương trình về quản lý, công việc tu bổ, tôn tạo nhằm khai thác lợi thế tiềm năng du lịch, tạo ra những điểm tham quan hấp dẫn trên Vịnh Hạ Long được tỉnh đặc biệt chú trọng. Đây là công việc vừa nhạy cảm, vừa hệ trọng, chúng ta lại hoàn toàn chưa có kinh nghiệm. Nhưng chỉ trong 3 năm vừa qua, tỉnh đã tập trung đầu tư dứt điểm, và hoàn thành 4 dự án trên Vịnh Hạ Long đó là các dự án đầu tư tôn tạo động Thiên Cung, hang Sửng Sốt, hang đầu Gỗ và cải tạo bãi biển tắm đỏa Ti Tốp với tổng mức đầu tư là 12 tỷ đồng. Những dự án trên là bước đột phá có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy giá trị, làm tăng tính hấp dẫn của Vịnh Hạ Long. Các dự án trên tuy còn những điểm cần tiếp tục được điều chỉnh nhưng nó đã đáp ứng được 2 mục tiêu bảo tồn được các giá trị tự nhiên, mỗi dự án đều nên ấn tượng và phong cách riêng, đồng thời nâng cao được giá trị của các hang động, tạo nên những điểm tham quan hấp dẫn trên Vịnh Hạ Long làm thay đổi ấn tượng của du khách đối với Hạ Long. Cùng với các dự án trên Vịnh Hạ Long, dự án đầu tư xây dựng mới Cảng tàu khách du lịch cũng đã hoàn thành với sự đầu tư nhiều tỷ đồng, góp phần lập lại trật tự trong quản lý, kinh doanh du lịch, trả lại cả một dải bờ biển dài 2 km với cảnh quan nên thơ lâu nay đã trở thành bến tàu tạm thời. Những dự án trên được triển khai cùng với việc con đường nối Hà Nội với Hạ Long được cải tạo về cơ bản, bãi biển Bãi Cháy được đầu tư cải tạo, nhiều cơ sở hạ tầng, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí được xây dựng, hoạt động kinh doanh du lịch được chấn chỉnh đã tạo nên một diện mạo mới cho Du lịch Hạ Long, tạo nên sự tăng trưởng nhảy vọt. Năm 1997 mới có 370 nghìn khách tham quan Vịnh Hạ Long chỉ tăng 8% so với năm 1996, năm 1998, con số này là 430 nghìn tăng 16% và năm 199 đạt 620 nghìn tăng 44% trong đó khách quốc tế có 330 nghìn, chiếm 53%. Chỉ riêng phí tham quan Vịnh Hạ Long năm 1999 đạt 10 tỷ đồng. Hạ Long cũng là nơi đầu tiên trong cả nước thực hiện thu một mức vé tham quan chung cho người Việt Nam và người nước ngoài. Kết quả này có thể được coi là một bước tiến dài nếu đặt trong bối cảnh khu vực xảy ra khủng hoảng kinh tế, du lịch ở hầu hết các địa phương trong cả nước bị chững lại hoặc giảm sút. Đối với Vịnh Hạ Long việc bảo vệ môi trường là một vấn đề có ý nghĩa quyết định, vừa trước mắt vừa lâu dài và là vấn đề hết sức nhạy cảm. Với sự giúp đỡ của Chính phủ và Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường, các bộ, ngành có liên quan, Quảng Ninh đã triển khai một loạt chương trình có hiệu quả. Dự án quy hoạch quản lý môi trường Vịnh Hạ Long đến năm 2010 với sự phối hợp của tổ chức JICA của Nhật Bản, Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường đã hoàn thành, dự án xử lý nước thải khu vực Bãi Cháy đã vận hành và phát huy hiệu quả, Dự án cấp thoát nước Thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả đang thực hiện cảng than Hòn Gai sẽ chuyển thành cảng Du lịch – Thương mại vào năm 2000, rác thải trên Vịnh Hạ Long được phân công trách nhiệm thu gom, nhận thức của cộng đồng đang được nâng lên, Dự án xây dựng cầu Bãi Cháy sắp bắt đầu… Với ự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự giúp đỡ của các ngành, chỉ sau một thời gian ngắn, cơ quan này đã được củng cố và có bước phát triển mạnh, đề xuất được nhiều việc có tính đột phá, trực tiếp thực hiện nhiều nội dung có hiệu quả, trở thành đơn vị nòng cốt trong công tác quản lý Vịnh Hạ Long, tạo ra những thay đổi căn bản về quản lý so với trước.
PV-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.